- Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng lượng ma túy cùng vỏ bao bì còn lại sau giám định có số 394MT/PC09 (theo biên bản giao, nhận tài sản vật chứng ngày 30…
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 121/2021/HS-ST Ngày 12-11-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn V Hạnh
Bà Nguyễn Thị Mai.
Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Hải Bình - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 107/2021/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 291/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Trần Quốc V, sinh ngày 08 tháng 8 năm 1976 tại H. Nơi cư trú: Số 5/376 T, phường N, quận L, thành phố H; nghề nghiệp: Tự do; trình độ V hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn D và bà Nguyễn Thị L; có vợ là Vũ Thị N và 01 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Án số 62/2013/HSST ngày 17/4/2013 Tòa án nhân dân quận Lê Chân xử 42 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; bị tạm giữ ngày 17/6/2021; tạm giam ngày 23/6/2021.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 17/6/2021, V điều khiển xe máy biển kiểm soát 15B1-70133 từ bến xe Niệm Nghĩa đến đường tàu T để tìm mua ma túy, sử dụng cho bản thân. Khi đi đến chắn tàu thì V gặp và nhờ một người nam giới không quen biết mua ma túy hộ V. Nam giới đồng ý bảo V chở đến đầu ngõ 430 Trần Nguyên Hãn, tại đây V đưa cho người nam giới 200.000 đồng để mua hộ 01 gói heroine. Người nam giới đi sâu vào trong ngõ (V không biết người nam giới đi đâu). Khoảng 05 phút sau thì người nam giới quay lại và đưa cho V 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 01 gói giấy màu trắng. Sau đó người nam giới bỏ đi. V biết bên trong là ma túy nên cầm trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe đến khu vực trước cửa nhà số 1/430 Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, Hải Phòng thì bị lực lượng công an kiểm tra, bắt giữ. Tiến hành kiểm tra, tổ công tác thu giữ 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 01 gói giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy) tại lòng bàn tay trái của V. Ngoài ra còn thu giữ của V 01 xe máy BKS 15B1-701.33. Sau đó cơ quan công an đã đưa V cùng tang vật về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại Kết luận giám định số 394/KLGĐ – MT ngày 21/6/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,19 gam, là loại heroine.
Tại Cáo trạng số 119/CT-VKS ngày 29/9/2021, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Trần Quốc V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Quốc V từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Do bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy và vỏ bao gói còn lại sau giám định.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 15B1 – 701.33 thu giữ khi bắt giữ V, quá trình điều tra xác định được chủ sở hữu hợp pháp là anh Lưu Hồng L, sinh năm 1979, nơi cư trú: Số 5/164 T, phường N, quận L, thành phố H. Anh L không biết V sử dụng xe để đi mua ma túy nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân đã trả lại chiếc xe trên cho anh L.
Đối với người nam giới mua ma túy hộ V do không xác định được căn cước, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân không có cơ sở để điều tra.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, nội dung bản kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa. Thể hiện: Hồi 10 giờ 30 phút, ngày 17/6/2021, tại khu vực trước cửa nhà số 1/430 Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, Hải Phòng, Trần Quốc V đã có hành vi cất giữ 0,19 gam heroin để sử dụng cá nhân và bị bắt quả tang nên đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Về hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện; gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân nên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, bắt cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo cai nghiện ma túy.
Về nhân thân: Bị cáo có 1 tiền án đã được xóa. Nhưng cho thấy bị cáo là người có ý thức chấp hành pháp luật kém, không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội nên cần phải xử lý nghiêm.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng, án phí:
Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Quốc V 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 17 tháng 6 năm 2021.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng lượng ma túy cùng vỏ bao bì còn lại sau giám định có số 394MT/PC09 (theo biên bản giao, nhận tài sản vật chứng ngày 30/9/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND quận Lê Chân; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Công an quận Lê Chân; - Cơ quan THAHS quận Lê Chân; - Trại tạm giam CATP Hải Phòng; - Chi cục THADS quận Lê Chân; - Sở tư pháp thành phố Hải Phòng; - Phòng PV06, PC10 CATP Hải Phòng; - UBND xã/phường nơi bị cáo cư trú; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thùy Linh |