- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Duy L (tên gọi khác: L Xít) phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổ…"
- Tòa quyết gì? Điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:121/2021/HS-ST Ngày 09-11-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Gia, ông Phạm Thanh Trà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Huyền- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Bằng - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 11 năm 2021, tại Tòa án nhân dân huyện Tân Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 125/2021/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2021/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:
Hoàng Duy L (Tên gọi khác: L X), sinh năm 1989, tại Đồng Nai (có mặt).
Nơi cư trú: tổ n, ấp TT, xã PX, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Quang C, sinh năm 1960 và bà Quách Thị Q, sinh năm 1960, có vợ Nguyễn Thị Kim L1, sinh năm 1992, có 02 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2012. Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 10/01/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai từ ngày 01/7/2021 đến nay.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Kim L1, sinh năm 1992 (có mặt)
Địa chỉ: tổ n, ấp TT, xã PX, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 11 giờ 50 phút ngày 01/7/2021 tại đường bê tông thuộc ấp TT, xã PX, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, trên đường tuần tra kiểm soát Công an xã Phú Xuân phát hiện đối tượng Hoàng Duy L đang điều khiển xe mô tô biển số 60K9 – 3090, có nhiều biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện L tàng trữ 02 gói ni lông được quấn băng keo trắng, đen bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (L khai nhận là ma túy đá) mua về nhằm mục đích sử dụng nên Công an xã Phú Xuân tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật.
Tang vật thu giữ:
- 02 gói ni lông được bọc băng keo dính bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M1).
- 01 xe mô tô biển số 60K9 – 3090, 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu hồng.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Duy L, ngụ ấp TT, xã PX, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, đã phát hiện và thu giữ:
- 01 gói ni lông hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (Ký hiệu M2) thu giữ tại thanh sắt bên hông nhà.
- 01 bật lửa, 01 dao lam, 01 dụng cụ sử dụng ma túy tự chế gồm 01 chai nhựa có nắp đục hai lỗ tròn, một lỗ gắn ống thủy tinh, một lỗ gắn ống hút màu trắng. (Bút lục 28)
Tại bản kết luận giám định số 1427/KLGĐ-PC09 ngày 07/7/2021 kết luận, mẫu tinh thể màu trắng (kí hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,4716 gam, loại Methamphetamine. Mẫu tinh thể màu trắng (kí hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,5426 gam, loại Methamphetamine.
Tại Bản cáo trạng số 128/CT-VKSTP-ĐN ngày 19 tháng 10 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, truy tố bị cáo Hoàng Duy L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện Tân Phú giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Duy L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bị cáo phải chịu án phí, xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo L thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Về hình phạt bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phú, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Vào lúc 11 giờ 50 phút ngày 01/7/2021 Hoàng Duy L đã có hành vi tàng trữ 02 gói ni lông bên trong chứa ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,4716 gam nhằm mục đích sử dụng thì bị Công an xã Phú Xuân phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Duy L thu giữ 01 gói ni lông bên trong chứa ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,5426 gam nhằm mục đích sử dụng. Tổng khối lượng ma túy Hoàng Duy L tàng trữ là 1,0142 gam.
Như vậy hành vi của L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố là đúng người đúng tội.
Về hình phạt: Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý, sử dụng chất ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện, đồng thời ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất và tinh thần của người nghiện ma túy, còn là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Vì vậy nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển… trái phép chất ma túy. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét áp dụng cho bị cáo 01 mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, cải tạo, giáo dục. Tuy nhiên, do bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, đồng thời có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn đang nuôi 02 con còn nhỏ, là lao động chính trong gia đình nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của nhà nước, quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự và các tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2, Điều 51 BLHS.
Về vật chứng của vụ án:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì giấy niêm phong số 1427/KLGĐ-PC09 bên trong đựng ma túy sau giám định; 01 bật lửa, 01 dao lam, 01 dụng cụ sử dụng ma túy tự chế gồm 01 chai nhựa có nắp đục hai lỗ tròn, một lỗ gắn ống thủy tinh, một lỗ gắn ống hút màu trắng, vì đây là công cụ dùng vào mục đích sử dụng ma túy, không còn giá trị sử dụng.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà Nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu hồng vì đây là phương tiện liên lạc để mua ma túy.
- 01 xe mô tô biển số 60K9 – 3090 là tài sản hợp pháp của gia đình Hoàng Duy L, không liên quan đến việc phạm tội nên đã trao trả cho chủ sở hữu.
Các vấn đề khác:
Về nguồn gốc ma túy: quá trình điều tra, Hoàng Duy L khai nhận mua của một đối tượng tên T, ngụ xã Phú Trung, huyện Tân Phú. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh nhưng chưa làm rõ được, sẽ tiếp tục điều tra khi nào có căn cứ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Duy L (tên gọi khác: L Xít) phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1.1. Xử phạt bị cáo Hoàng Duy L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/7/2021.
Áp dụng: Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
2. Vật chứng vụ án:
- Tịch thu tiêu hủy 01 bao bì niêm phong số 1427/KLGĐ-PC09 bên trong chứa ma túy, mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: M1= 0,4317, M2= 0,5064 gam, 01 bật lửa, 01 dao lam, 01 dụng cụ sử dụng ma túy tự chế gồm 01 chai nhựa có nắp đục hai lỗ tròn, một lỗ gắn ống thủy tinh, một lỗ gắn ống hút màu trắng và tịch thu sung công quỹ Nhà Nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu hồng theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú ngày 20/10/2021.
Áp dụng: khoản 2, Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự ; Điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Duy L phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
4. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo Hoàng Duy L, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Kim L1 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú; - CQCSĐT Công an huyện Tân Phú; - CQ THA hình sự Công an huyện Tân Phú; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Bị cáo; Người có QLNV liên quan; - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Lan Nguyễn Thị Thúy Lan TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Lan TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Lan TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Lan TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Lan |