- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Dương Trường Sơn - Dương Thanh Hải"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dương Trường S.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 121/2020/DS-ST Ngày 01/9/2020 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thị Mỹ Trúc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đông Hà
2. Bà Trần Thị Bé Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Quyền Trân – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huệ – Kiểm sát viên.
Ngày 01/9/2020, tại trụ sở TAND huyện Vị Thủy mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 99/2020/TLST – DS ngày 29/5/2020 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2020/QĐST-DS, ngày 19/8/2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Dương Trường S, sinh năm 1978.
Địa chỉ: ấp 6, xã Vĩnh Trung, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đặng Thị Lệ Đ, sinh năm 1975.
Địa chỉ: ấp 6, xã Vĩnh Trung, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
2. Bị đơn:
2.1. Ông Dương Văn H (Dương Thanh H), sinh năm 1970.
Địa chỉ: ấp 6, xã Vĩnh T, huyện V, tỉnh Hậu Giang.
2.2. Bà Phạm Thị H1 (T), sinh năm 1971.
Địa chỉ: ấp 6, xã Vĩnh T, huyện V, tỉnh Hậu Giang.
Chỗ ở hiện nay: ấp 2, xã Vĩnh T, huyện V, tỉnh Hậu Giang
Các đương sự có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 27 tháng 5 năm 2020 nguyên đơn ông Dương Trường S trình bày: Vào ngày 28/6/2018, ông Dương Văn H và bà Phạm Thị H1 có hỏi mượn của ông S số tiền 23.000.000 đ, có làm giấy nợ, thỏa thuận 3 tháng sau sẽ trả, khi mượn không có thỏa thuận lãi suất. Ông S có đòi nhiều lần nhưng đến nay ông H và bà H1 không đồng ý. Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông H và bà H1 trả số tiền 23.000.000 đ và lãi suất theo quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án đại diện của ông S rút lại yêu cầu tính lãi suất.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 26/6/2020 bị đơn ông Dương Thanh H trình bày: Ông có vợ là bà Phạm Thị H1 hiện đã ly hôn. Trước khi ly hôn bà H1 có vay nợ của nhiều người nhưng ông không hay biết. Khi chủ nợ đến nhà yêu cầu ông ký vào giấy nợ thì ông có ký tên của ông. Ông xác định chữ ký trong giấy nợ ghi “tiền nợ” là của ông nhưng do số tiền này do bà TH1 vay nên ông không đồng ý trả.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 22/7/2020 bị đơn bà Phạm Thị H1 trình bày: Bà là vợ của ông Phạm Thanh H nhưng bà và ông H đã ly hôn vào năm 2019. Khoảng năm 2017 bà và ông H có vay của ông Dương Trường S số tiền 23.000.000đ. Đến năm 2018 thì thỏa thuận viết giấy nợ với ông S, ông H và bà có ký tên vào giấy nợ. Lãi suất 40.000đ/triệu/tháng. Từ ngày làm biên nhận đến nay không có trả lãi. Số tiền bà và ông H vay để phục vụ chung trong gia đình.
Khi ly hôn bà và ông H có thỏa thuận ông H quản lý hết tài sản chung thì chịu trách nhiệm trả nợ. Tuy nhiên ông H không thực hiện nên ông S khởi kiện.
Vì tài sản bà đã giao cho ông H hết nên bà không có khả năng trả nợ. Bà yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã nộp giấy tay “tiền nợ” cho Tòa án.
Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn yêu cầu ông Dương Thanh H và bà Phạm Thị H1 trả số tiền 23.000.000 đ, rút lại yêu cầu tính lãi. Các bị đơn không thống nhất đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Kiểm sát viên phát biểu về việc thụ lý giải quyết vụ án của Thẩm phán và của Hội đồng xét xử, cũng như ý thức chấp hành pháp luật của các bên đương sự là đúng pháp luật.
Về nội dung giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về án phí các đương sự phải chịu theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thẩm quyền: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Dương Trường S khởi kiện yêu cầu ông Dương Thanh H và bà Phạm Thị H1 trả số tiền còn nợ nên Hội đồng xét xử xác định là “tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy theo quy định tại Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về nội dung khởi kiện: Căn cứ vào tờ “tiền nợ” do đại diện nguyên đơn nộp cho Tòa án thể hiện được vào ngày 28/6/2018 ông Dương Thanh H và bà Phạm Thị H1 có mượn của ông Dương Trường S số tiền 23.000.000 đ. Ông H và bà H1 thừa nhận chữ ký trong giấy nợ là của ông bà nên ông S khởi kiện là có căn cứ. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập các đương sự để tiến hành hòa giải, tuy nhiên bị đơn vắng mặt và nguyên đơn có yêu cầu không tiến hành hòa giải nữa. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông H cho rằng số tiền này là do bà H1 vay ông không biết và không đồng ý trả và bà H1 thì cho rằng tài sản đã giao cho ông H nên bà không đồng ý trả là không có cơ sở. Việc ông H thống nhất ký tên vào giấy nợ đồng nghĩa với việc ông H đã biết và đã thừa nhận số nợ này và đây là khoản nợ mà ông H và bà H1 đã vay trong thời kỳ hôn nhân. Đối với bà H1 thì đây là nợ chung nên bà phải chịu trách nhiệm cùng ông H. Do đó Hội đồng xét xử buộc ông H và bà H1 phải có nghĩa vụ trả nợ cho ông S.
Do đại diện nguyên đơn rút lại yêu cầu tính lãi suất, xét thấy đây là sự định đoạt của đương sự phù hợp với nội dung ủy quyền nên Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu tính lãi suất.
. Áp dụng Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí. Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Các đương sự còn được kháng cáo theo luật định;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 5, 6, 26, 35, 39, 147, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 463, 465, 466 Bộ luật dân sự 2015
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dương Trường S.
Buộc ông Dương Thanh H và bà Phạm Thị H1 có nghĩa vụ trả cho ông Dương Trường S số tiền 23.000.000đ (Hai mươi ba triệu đồng).
Đình chỉ đối với yêu cầu tính lãi suất của ông Dương Trường S.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
Ông Dương Trường S được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0001062 ngày 29 tháng 5 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, nhận tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Dương Thanh H và bà Phạm Thị H1 phải nộp số tiền 1.150.000đ (Một triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).
Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - Các đương sự; - VKSND huyện Vị Thủy; - Chi cục THADS huyện Vị Thủy; - Cổng TTĐT Tòa án; - Lưu. Hội thẩm nhân dân Nguyễn Đông Hà Trần Thị Bé Ngọc | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Quách Thị Mỹ Trúc HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Quách Thị Mỹ Trúc |