vanban.org

Bản án 121/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 05/08/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/08/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn K; giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ th m số 63/2019/HS-ST ngày 23/5/2019 của Toà án nhân dân thị ã U, tỉnh Bình Dương về phần hình phạt đối với bị cáo Bùi Văn K.

Áp d ng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được s a đổi, bổ sung năm 2017); X phạt: Bị cáo Bùi Văn K 02 (hai) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành á… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn K - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn K; giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ th m số 63/2019/HS-ST ngày 23/5/2019 của Toà án nhân dân thị ã U, tỉnh Bình Dương về phần hình phạt đối với bị cáo Bùi Văn K.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:121/2019/HS-PT
Ngày: 05-8-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Th m phán - Ch t a phi n t a: Bà Nguyễn Thị Sang;

Th m phán thành vi n: Ông Trương Văn Lộc;

Ông Trần Văn Luông.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Lữ Thị Lệ Huyền - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 30 tháng 7 và 05 tháng 8 năm 2019, tại tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương t phúc th m công khai v án hình sự phúc th m th lý số 132/2019/TLPT-HS ngày 03 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo Bùi Văn K. Do có kháng cáo của bị cáo Bùi Văn K đối với Bản án hình sự sơ th m số 63/2019/HS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị ã U, tỉnh Bình Dương.

- Bị cáo có kháng cáo:

Bùi Văn K, sinh năm 1983, tại tỉnh Hòa Bình; nơi đăng ký HKTT: Xóm B, xã D, huyện K, tỉnh Hòa Bình; chỗ : Số 21D/17, khu phố C, phường E, thị ã A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Tài ế; trình độ văn hóa:11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn K và bà Hoàng Thị T; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị T và 02 người con (lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2017); tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo bị áp d ng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

1. Ông Phạm Tấn K, sinh năm 1968; địa chỉ: Khu phố 8, phường L, quận M, Thành phố Hồ Chí Minh (đã chết).

Người đại diện hợp pháp cho bị hại Phạm Tấn K:

- Bà Nguyễn Thị Phương N, sinh năm 1974; địa chỉ: Số 31/1 đường số 37, khu phố 8, phường L, quận M, thành phố Hồ Chí Minh (vợ ông Phạm Tấn K).

- Phạm Hoài N, sinh năm 1997;

- Phạm Thị Phượng L, sinh năm 2001;

- Phạm Trung K, sinh năm 2007;

Cùng điạ chỉ: Số 31/1 đường số 37, khu phố 8, phường L, quận M, thành phố Hồ Chí Minh (là các con của bị hại). Đại diện hợp pháp cho Phạm Thị Phượng L, Phạm Trung K là bà Nguyễn Thị Phương N. Bà Nguyễn Thị Phương N vắng mặt tại phiên tòa.

2. Bà Bùi Thị D, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn K, xã I, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; tạm trú: Khu phố L, phường F, thị ã U, tỉnh Bình Dương (có mặt).

3. Bà Bùi Thị H, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn P, xã V, huyện X, tỉnh Thanh Hóa; tạm trú: Khu phố L, phường F, thị ã U, tỉnh Bình Dương (có mặt).

Bị đơn dân sự:

1. Ông Nguyễn Thành S, sinh năm 1986; địa chỉ: Khu phố YB, phường Z, thị xã A, tỉnh Bình Dương (có mặt).

2. Ông Phan Văn Hùng, sinh năm 1976; địa chỉ: Đường O2, khu phố R 2, phường S, thị ã A, tỉnh Bình Dương (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan đến vụ án:

Ông Hoa Minh T, sinh năm 1982; địa chỉ: Khu phố YB, phường Z, thị ã A, tỉnh Bình Dương (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Bùi Văn K có giấy ph p lái e ôtô hạng FC, số 740127015683 do S giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 25/01/2017 có thời hạn đến ngày 25/01/2022. Bùi Văn K làm nghề tài ế lái e thuê cho ông Nguyễn Thành S và ông Phạm Văn H.

Khoảng 06 giờ 55 phút ngày 01/11/2018, Bùi Văn K điều khiển e ôtô tải biển số 61C – 347.90 lưu thông trên đường ĐT747B theo hướng đi từ vòng oay cây ăng U về hướng ngã tư lô 349. Khi lưu thông đến đoạn đường thuộc khu phố 7, phường H, thị ã U, tỉnh Bình Dương, Bùi Văn K điều khiển e ôtô biển số 61C – 347.90 lưu thông không đúng làn đường, thiếu chú ý quan sát và không giữ khoảng cách an toàn với các phương tiện lưu thông cùng chiều phía trước dẫn đến va chạm từ sau tới đối với e mô tô biển số 54XA - 0029 do ông Phạm Tấn K đang lưu thông trên làn đường dành cho e ôtô con cùng chiều phía trước. Sau đó, Bùi Văn K tiếp t c điều khiển e ôtô biển số 61C – 347.90 về phía trước và tiếp t c va chạm từ phía sau tới đối với e mô tô biển số 73G1 – 234.71 do bà Bùi Thị D điều khiển ch bà Bùi Thị H ngồi phía sau, đang dừng e chờ đèn đỏ cùng chiều phía trước, sau tai nạn e mô tô biển số 54XA - 0029 cùng ông Phạm Tấn K ngã uống, ông Phạm Tấn K t vong tại hiện trường; e mô tô biển số 73G1 – 234.71 cùng bà Bùi Thị D, bà Bùi Thị H cùng bị ngã uống đường làm bà Bùi Thị D, bà Bùi Thị H bị thương tích nặng được đưa đến bệnh viện cấp cứu.

Kết quả khám nghiệm hiện trường ác định: Hiện trường v tai nạn giao thông đường bộ ảy ra trên đoạn ĐT747B thuộc khu phố 7, phường H, thị ã U, tỉnh Bình Dương. Đoạn đường ảy ra v tai nạn là đoạn đường thẳng tầm nhìn không bị che khuất, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng rộng 24 m, có dãy phân cách cố định trồng hoa giấy giữa đường, mỗi phần đường rộng 12 m. Trên phần đường ảy ra tai nạn chia làm ba làn đường, mỗi làn đường rộng 04 m. Chọn lề phải theo hướng lưu thông đi từ vòng oay cây ăng U về hướng ngã tư lô 349 làm lề chu n. Chọn tr điện số 13 nằm trên hành lang đường bên lề chu n là vật cố định cho hiện trường. Hiện trường để lại e mô tô biển số 54XA – 0029 và xe mô tô biển số 73G1 – 234.71, xe ôtô tải biển số 61C-347.90 không có hàng hóa trên e và nạn nhân t vong nằm dưới gầm e ô tô tải ben.

- Xe ôtô biển số 61C – 347.90 lưu thông theo hướng từ vòng oay cây ăng U về hướng ngã tư lô 349, sau tai nạn dừng lại trên làn đường giữa theo hướng lưu thông đuôi e hướng vòng oay cây ăng U, đầu e hướng ngã tư lô 349 hơi chếch ra hướng giữa đường. Khoảng cách tr c trước bên phải đến lề chu n là 5,70 m, tr c sau bên phải cách lề chu n 5,10 m. Xe ôtô biển số 61C – 347.90 khi ảy ra tai nạn để lại vết phanh hai lốp sau: Vết phanh lốp sau bên trái dài 15,40 m, điểm đầu vết cách m p lề chu n là 8,20 m, điểm cuối tại vị trí lốp sau khi e ôtô dừng. Vết phanh lốp sau bên trái dài 17 m, điểm đầu vết cách m p lề chu n là 6,40 m, điểm cuối tại vị trí lốp sau khi e ôtô dừng.

- Xe mô tô biển số 54XA – 0029 lưu thông theo hướng từ vòng oay cây ăng U về hướng ngã tư lô 349, sau tai nạn ngã bên phải trên làn đường ngoài cùng (làn xe ôtô con) theo hướng lưu thông, đầu e hướng ngã tư lô 349, đuôi e hướng vòng oay cây ăng U. Tr c trước cách lề chu n là 11,10 m, tr c sau cách lề chu n 10,60 m. Khi ngã e mô tô biển số 54XA – 0029 để lại vết cày không liên t c dài 7,50 m, điểm đầu vết cách m p lề chu n là 8,80 m t và cách điểm đầu vết phanh lốp sau bên trái e ô tô là 1,10 m, điểm cuối tại vị trí e mô tô ngã.

- Xe mô tô biển số 73G1 – 234.71 đang dừng đèn đỏ, sau tai nạn ngã bên trái. Đầu e hướng ngã tư lô 349, đuôi e hướng vòng oay cây ăng U hơi chếch ra hướng giữa đường. Khoảng cách từ vật chu n đo đến tr c sau của e mô tô biển số 73G1 – 234.71 là 9,40 m, khoảng cách tr c trước đo vào lề chu n là 1,60 m, tr c sau cách m p lề chu n là 2,10 m. Khi ngã e mô tô biển số 73G1 – 234.71 để lại vết cày không liên t c dài 11,50 m, điểm đầu vết cách m p lề chu n là 5,50 m và cách tr c trước bên phải của e ôtô biển số 61C – 347.90 là 01 m, điểm cuối vết tại vị trí e mô tô ngã.

- Nạn nhân Phạm Tấn K t vong tại hiện trường trong tư thế nằm úp, dưới gầm e ôtô biển số 61C – 347.90. Đầu hướng vào lề chu n, chân hướng ra giữa đường. Đỉnh đầu nạn nhân cách m p lề chu n là 6,20 m, chân cách m p lề chu n là 7,50 m.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị ã U tạm giữ:

- 01 (một) e ôtô tải biển số 61C – 347. 90;

- 01 (một) bản sao Giấy chứng nhận đăng ký e ôtô biển số 61C – 347. 90;

- 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định e ôtô biển số 61C – 347. 90;

- 01 (một) Giấy ph p lái e hạng FC mang tên Bùi Văn K;

- 01 (một) e mô tô biển số 54XA - 0029;

- 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký e mô tô biển số 54XA - 0029;

- 01 (một) e mô tô biển số 73G1 – 234.71;

- 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký e mô tô biển số 73G1 – 234.71;

- 01 (một) Giấy ph p lái e hạng A1 mang tên Bùi Thị D;

Tại Biên bản khám nghiệm t thi ngày 01/11/2018 và Bản kết luận giám định pháp y t thi số 890/GĐPY ngày 04/11/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Nguyên nhân chết của nạn nhân Phạm Tấn K do đa chấn thương, chấn thương sọ não. Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 69 ngày 19/02/2019 của Trung tâm pháp y thuộc S Y tế tỉnh Bình Dương kết luận Bùi Thị D có thương tích: Chấn thương dập vỡ gan phải phân thùy VII điều trị nội khoa bảo tồn, gãy ương sườn VIII và XII phải đã cal, gãy mỏm ngang D10, D1, L1, L2, L3, L4 đã cal. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 29% (Hai mươi chín phần trăm). Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 68 ngày 19/02/2019 của Trung tâm pháp y thuộc S Y tế tỉnh Bình Dương kết luận Bùi Thị H có thương tích: Chấn thương vùng mông – chậu trái, gãy ngành trên và dưới ương mu trái đã cal. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 15% (Mười lăm phần trăm).

Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố t ng hình sự số 11/KLTS-TTHS ngày 10/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố t ng hình sự thị ã U, kết luận: Thiệt hại về tài sản của e mô tô biển số 73G1 – 234.71 khi ảy ra tai nạn vào ngày 01/11/2018 là 8.530.000đ (Tám triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng).

Xe ôtô tải ben biển số 61C – 347. 90 do ông Hoa Minh T đứng tên đăng ký chủ s hữu. Ông Hoa Minh T khai xe ôtô này ông đứng tên đăng ký e giùm hai ông Nguyễn Thành S và ông Phạm Văn H. Ông Nguyễn Thành S và ông Phạm Văn H khai xe ôtô tải biển số 61C – 347. 90 do hai ông góp tiền mua để kinh doanh vận tải và nhờ ông Hoa Minh T đứng tên đăng ký chủ s hữu giúp. Ngày 01/11/2018, ông Phạm Văn H giao xe này cho Bùi Văn K điều khiển để ch hàng hóa và gây tai nạn. Ngày 13/12/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị ã U ra Quyết định lý vật chứng số 25 trả lại e ôtô biển số 61C – 347. 90 cho ông Phạm Văn H.

Xe mô tô biển số 54XA – 0029 do ông Phạm Tấn K đứng tên đăng ký chủ s hữu. Ngày 01/11/2018, ông Phạm Tấn K điều khiển e đi làm và bị tai nạn. Ngày 13/12/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị ã U ra Quyết định lý vật chứng số 24 trả lại e mô tô biển số 54XA – 0029 cùng với Giấy chứng nhận đăng ký e này cho bà Nguyễn Thị Phương N là vợ của ông Phạm Tấn K.

Xe mô tô biển số 73G1 – 234.71 do bà Bùi Thị D đứng tên đăng ký chủ s hữu. Ngày 01/11/2018, bà Bùi Thị D điều khiển e này ch bà Bùi Thị H đi làm và bị tai nạn. Ngày 13/12/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị ã U ra Quyết định lý vật chứng số 23 trả lại e mô tô biển số 73G1 – 234.71 cùng với Giấy chứng nhận đăng ký e này và Giấy ph p lái e hạng A1 mang tên Bùi Thị D cho bà Bùi Thị D.

Về phần trách nhiệm dân sự: Bị cáo Bùi Văn K cùng ông Hoa Minh T, Nguyễn Thành S và Phạm Văn H đã thỏa thuận bồi thường cho bà Nguyễn Thị Phương N là đại diện hợp pháp của bị hại Phạm Tấn K tổng số tiền là 130.000.000đ (Một trăm ba mươi triệu đồng) và bà Nga không có yêu cầu gì khác và làm đơn in bãi nại cho bị cáo Bùi Văn K.

Bà Bùi Thị D yêu cầu bị đơn dân sự bồi thường thiệt hại về tài sản và chi phí điều trị thương tích và tổn thất tinh thần và thiệt hại về thu nhập thực tế bị mất trong thời gian bà Bùi Thị D điều trị thương tích tổng số tiền 67.525.000 đồng (Sáu mươi bảy triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Ông Nguyễn Thành S và Phạm Văn H đã bồi thường số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Bà Bùi Thị H yêu cầu bị đơn dân sự bồi thường thiệt hại về chi phí điều trị thương tích và tổn thất tinh thần và thiệt hại về thu nhập thực tế bị mất trong thời gian bà Bùi Thị H điều trị thương tích tổng số tiền 36.000.000 đồng (Ba mươi sáu triệu đồng). Ông Nguyễn Thành S và Phạm Văn H đã bồi thường số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

Tại Bản án hình sự sơ th m số 63/2019/HS-ST ngày 23/5/2019 của Toà án nhân dân thị ã U, tỉnh Bình Dương đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (s a đổi, bổ sung năm 2017). X phạt bị cáo Bùi Văn K 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 590 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Bùi Văn Kphải bồi thường cho bị hại Bùi Thị D số tiền 57.525.000 đồng và bị hại bà Bùi Thị H số tiền 26.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ th m còn tuyên về lý vật chứng, biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 04/6/2019, bị cáo Bùi Văn K kháng cáo in được hư ng án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo in giảm nhẹ hình phạt và được hư ng án treo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phi n t a trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Về thời hạn kháng cáo, đơn kháng cáo của bị cáo Bùi Văn K đúng theo thời hạn luật định nên Tòa án nhân dân dân tỉnh Bình Dương đưa v án ra em t theo thủ t c phúc th m là đúng theo quy định tại các Điều 332, 333 Bộ luật Tố t ng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung của bản án sơ th m. Sau khi t sơ th m, bị cáo kháng cáo in hư ng án treo. Tại phiên tòa, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo in giảm nhẹ hình phạt và được hư ng án treo. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương t thấy Tòa án cấp sơ th m tuyên phạt bị cáo 02 năm tù là đúng người, đúng tội, tương ứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo kháng cáo in giảm nhẹ hình phạt và được hư ng án treo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào khác nên đề nghị Hội đồng t không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ th m về phần hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự: Tòa án cấp sơ th m ác định tư cách của ông Nguyễn Thành S, ông Phan Văn H là người có quyền lợi, nghĩa v liên quan là không đúng tư cách tham gia tố t ng. Tại phiên tòa phúc th m, bị hại Bùi Thị D và Bùi Thị H yêu cầu chủ e gây tai nạn có trách nhiệm bồi thường cho bị hại theo quy định nhưng ông Nguyễn Thành S không đồng ý bồi thường. X t thấy, việc ác định sai tư cách tham gia tố t ng của ông Nguyễn Thành S, ông Phan Văn H làm ảnh hư ng đến quyền lợi của các bị hại, đây là những thiếu sót của Tòa án cấp sơ th m mà Tòa án cấp phúc th m không thể khắc ph c được. Do đó, đề nghị Hội đồng t hủy một phần bản án sơ th m về trách nhiệm dân sự, giao hồ sơ về cho Tòa án cấp sơ th m t lại theo thủ t c chung.

Bị cáo Bùi Văn Kkhông có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng t

em t giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hư ng án treo.

Bị hại Bùi Thị D yêu cầu các bị đơn dân sự tiếp t c bồi thường số tiền 57.525.000 đồng; bị hại Bùi Thị H yêu cầu các bị đơn dân sự bồi thường cho bà số tiền 26.000.000 đồng. Bị đơn dân sự ông Nguyễn Thành S không đồng ý bồi thường cho các bị hại Bùi Thị D, Bùi Thị H. Ông Nguyễn Thành S cho rằng ông cùng ông Phan Văn H đã bồi thường cho gia đình bị hại Phan Tấn K rồi nên không tiếp t c bồi thường cho bà Bùi Thị H, bà Bùi Thị D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng t nhận định như sau:

Về thủ t c tố t ng: Hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng th m quyền trình tự, thủ t c theo quy định của Bộ luật Tố t ng hình sự. Bị cáo, người tham gia tố t ng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng trong quá trình điều tra và tại phiên tòa như cấp sơ th m nhận định là đúng. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ th m ác định ông Nguyễn Thành S và ông Phạm Văn H (đồng chủ s hữu ôtô tải biển số 61C – 347. 90) là người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án là chưa đúng tư cách tham gia tố t ng. Ông Nguyễn Thành S và ông Phạm Văn H có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định tại các Điều 584, 600, 601 Bộ luật Dân sự năm 2015, do đó phải ác định tư cách tham gia tố t ng của ông Nguyễn Thành S, ông Phạm Văn H là bị đơn dân sự.

Về nội dung:

Khoảng 06 giờ 55 phút, ngày 01/11/2018, Bùi Văn K điều khiển e ôtô tải biển số 61C-347.90 lưu thông trên đường ĐT747B theo hướng từ vòng oay cây ăng U về hướng ngã tư lô 349, khu phố 7, phường H, thị ã U, tỉnh Bình Dương. Khi lưu thông đến đoạn đường khu phố 7, phường H, thị ã U, tỉnh Bình Dương, Bùi Văn K điều kiển e đi không đúng làn đường quy định, thiếu chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn nên đã va chạm với e mô tô biển số 54XA-0029 do ông Phạm Tấn K điều khiển đang lưu thông trên làn đường dành cho e ô tô con cùng chiều phía trước. Sau đó, Bùi Văn K tiếp t c va chạm với e mô tô biển số 73G1-234.71 do bị hại Bùi Thị D ch bị hại Bùi Thị H ngồi phía sau làm bà Bùi Thị D, bà Bùi Thị H ngã uống đường. Sau va chạm, ông Phan Tấn K t vong tại chỗ, bà Bùi Thị D, bà Bùi Thị H được đưa đi cấp cứu.

[2.2] Hành vi của bị cáo Bùi Văn K điều khiển e ô tô tải tham gia giao thông đi không đúng làn đường, không chú ý quan sát và giữ khoảng cách an toàn cho xe cùng chiều phía trước đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 14 của Luật Giao thông đường bộ. Hậu quả là sau va chạm ông Phạm Tấn K t vong tại chỗ, bà Bùi Thị D bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 29%, bà Bùi Thị H bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 15%, thiệt hại về tài sản 8.530.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ th m t bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (s a đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng quy định của pháp luật.

X t kháng cáo của bị cáo về việc in giảm nhẹ hình phạt và được hư ng án treo: Hội đồng t

t thấy, Tòa án cấp sơ th m đã đánh giá đúng tính chất, mức độ phạm tội và em t đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo kháng cáo in giảm nhẹ hình phạt và được hư ng án treo, tuy nhiên, với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo làm chết 01 người, bị thương 02 người với tổng tỷ lệ thương tích 44%, thiệt hại về tài sản 8.530.000 đồng là nghiêm trọng nên việc cho bị cáo hư ng án treo sẽ không đủ tính răn đe, giáo d c trong tình hình tai nạn giao thông hiện nay. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào khác nên không có cơ s chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ th m về hình phạt đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Thành S, ông Phan Văn H là đồng chủ s hữu xe ôtô tải biển số 61C – 347. 90, Bùi Văn K là người làm công cho ông Phan Văn H và ông Nguyễn Thành S, ngày 01/11/2018, Bùi Văn K điều khiển e ôtô biển số 61C-347.90 đã gây tai nạn. Do vậy, ông Phan Văn H, ông Nguyễn Thành S có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo các Điều 584, 600, 601 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ th m ác định ông Phan Văn H, ông Nguyễn Thành S là người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án và không buộc ông Phan Văn H, ông Nguyễn Thành S có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho các bị hại Bùi Thị H, Bùi Thị D là không đúng, ảnh hư ng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Bùi Thị H, Bùi Thị D.

Tại phiên tòa phúc th m, bị hại Bùi Thị H, Bùi Thị D và các bị đơn dân sự Nguyễn Thành S, Phan Văn H không thỏa thuận, thống nhất giải quyết được với nhau về phần bồi thường thiệt hại. Do sai sót của Tòa án cấp sơ th m là không thể khắc ph c được và để đảm bảo nguyên tắc chế độ t sơ th m, phúc th m, Hội đồng t phúc th m t thấy cần thiết phải hủy một phần bản án sơ th m về trách nhiệm dân sự để Tòa án cấp sơ th m t lại theo thủ t c chung.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc giải quyết v án là phù hợp nên Hội đồng t chấp nhận.

Các phần khác của quyết định án sơ th m không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Án phí hình sự phúc th m: Bị cáo Bùi Văn K phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ tr n;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điểm a, c khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 2 Điều 358 và Điều 360 Bộ luật Tố t ng hình sự;

1/ Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn K; giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ th m số 63/2019/HS-ST ngày 23/5/2019 của Toà án nhân dân thị ã U, tỉnh Bình Dương về phần hình phạt đối với bị cáo Bùi Văn K.

- Áp d ng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được s a đổi, bổ sung năm 2017);

X phạt: Bị cáo Bùi Văn K 02 (hai) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

2/ Hủy một phần Bản án hình sự sơ th m số 63/2019/HS-ST ngày 23/5/2019 của Toà án nhân dân thị ã U, tỉnh Bình Dương về phần trách nhiệm dân sự.

3/ Giao hồ sơ về Tòa án nhân dân thị ã U, tỉnh Bình Dương để t lại theo thủ t c chung.

4/ Án phí phúc th m: Áp d ng Điều 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s d ng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Bùi Văn K phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc th m.

5/ Các phần khác của quyết định án sơ th m không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc th m có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ