vanban.org

Bản án 121/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa TAND tỉnh B; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Mỹ T - Trần Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG H
TỈNH B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 10/10/2019
V/v “Ly hôn và nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG H, TỈNH B

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị N.Y Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh T. 2. Ông Nguyễn Minh H. Thư ký phiên tòa: Ông Quang Minh Nghiêm là thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông H, tỉnh B. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông H tham gia phiên toà: Ông Trần Đăng K - Kiểm sát viên. Ngày 10 tháng 10 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 183/2019/TLST – HNGĐ, ngày 16 tháng 5 năm 2019 về việc “Ly hôn và n” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2019/QĐXX-ST ngày 05 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự: Nguyeân ñôn: Chị Nguyễn Mỹ T, sinh năm 1995; Địa chỉ: Không có số nhà thuộc ấp D, xã Đ, huyện Đông H, tỉnh B. Bò ñôn: Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1997; Địa chỉ: Không có số nhà thuộc ấp D, xã Đ, huyện Đông H, tỉnh B.

(Chị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Đ vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 06/5/2019 và các lời khai trong quá trình tố tụng chị Nguyễn Mỹ T trình bày: Về hôn nhân: Năm 2015 anh chị tự nguyện yêu thương, chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Nguyên nhân ly hôn: Trong thời gian chung sống không hạnh phúc, do mâu thuẫn, cãi vã và hiện anh chị đã sống ly thân. Trong thời gian sống ly thân anh chị cũng không quan tâm đến cuộc sống của nhau, không có biện pháp để hàn gắn cuộc sống vợ chồng. Nay chị xác định vợ chồng không còn khả năng hàn gắn nên yêu cầu được ly hôn. Về con chung: Có 01 người con chung tên Trần Minh Q, sinh ngày 19/10/2016, hiện đang sống với chị T. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con và không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông H, tỉnh B phát biểu quan điểm cho rằng: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định Luật tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Nội dung: 1.Hình thức, nội dung đơn khởi kiện và thời hạn khởi kiện thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 184, 189 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. 2. Nội dung khởi kiện: Về hôn nhân: Chị Nguyễn Mỹ T và anh Trần Văn Đ chung sống với nhau tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Điền Hải, huyện Đông H vào ngày 28/12/2017. Tuy nhiên, trong thời gian chung sống không hạnh phúc, căng thẳng kéo dài, hôn nhân không đạt được mục đích. Về con chung: Có 01 người con chung tên Trần Minh Quý, sinh ngày 19/10/2016, hiện đang sống với chị T. Về tài sản chung và nợ: Không có nên không đặt ra xem xét. Bởi các lẽ trên: Đề nghị HĐXX sơ thẩm, áp dụng: Áp dụng Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Mỹ T với anh Trần Văn Đ. Về con chung: Giao con chung Trần Minh Q, sinh ngày 19/10/2016 cho chị Nguyễn Mỹ T trực tiếp nuôi dưỡng, hiện chị T đang nuôi dưỡng được giữ nguyên. Anh Trần Văn Đ có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Về tài sản chung và nợ: Không có nên không đặt ra xem xét. Về án phí sơ thẩm hôn nhân: Chị Nguyễn Mỹ T phải nộp phí ly hôn 300.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông H, nhưng chị T được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông H về tuân theo pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Mỹ T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Trần Văn Đ, có địa chỉ cư trú tại ấp D, xã Đ, huyện Đông H, tỉnh B. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đông H, tỉnh B. Chị Nguyễn Mỹ T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, anh Trần Văn Đ vắng mặt lần thứ hai không lý do. Căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên. [2] Về nội dung: Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, đã triệu tập nhiều lần nhưng anh Trần Văn Đ vắng mặt không lý do xem như anh tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng của anh nên chấp nhận theo lời trình bày của chị T. Về quan hệ hôn nhân: Năm 2015 anh chị kết hôn trên tinh thần tự nguyện yêu thương nhau. Tuy nhiên, trong thời gian chung sống không hạnh phúc và hiện anh chị đã sống ly thân. Trong thời gian sống ly thân anh chị cũng không tìm được biện pháp để hàn gắn cuộc sống vợ chồng. Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Đ đến để hòa giải nhưng anh Đ không đến. Xét thấy, hôn nhân giữa anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T là phù hợp. Về con chung: Trong thời gian anh chị sống ly thân, con chung do chị T nuôi dưỡng nên cần tiếp tục giao con chung cho chị T nuôi dưỡng là phù hợp. Anh Trần Văn Đ có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Về tài sản chung và nợ: Không có nên không đặt ra xem xét. Về án phí sơ thẩm hôn nhân: Chị Nguyễn Mỹ T phải nộp số tiền 300.000đ, chị T đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông H theo biên lai thu số 0003618 ngày 16/5/2019 được chuyển thu án phí. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Mỹ T được ly hôn với anh Trần Văn Đ. 2. Về con chung: Giao con chung Trần Minh Q, sinh ngày 19/10/2016 cho chị Nguyễn Mỹ T trực tiếp nuôi dưỡng, hiện chị T đang nuôi dưỡng được giữ nguyên. Anh Trần Văn Đ có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. 3. Về tài sản chung và nợ: Không có nên không đặt ra xem xét. 4. Về án phí sơ thẩm hôn nhân: Chị Nguyễn Mỹ T phải nộp số tiền 300.000đ, chị T đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông H theo biên lai thu số 0003618 ngày 16/5/2019 được chuyển thu án phí. Án xử công khai, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ