vanban.org

Bản án 121/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương Tuyên án 26/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần D 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 08/3/2018. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Heroine và vỏ bao gói hoàn trả sau giám định được đựng trong phong bì niêm phong số 214/KLGĐ-PC54. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HD
TỈNH HD

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2018/HS-ST
Ngày 26-6-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HD,TỈNH HD

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Thắng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Hoan và ông Lê Quang Khỏe.

Thư ký Tòa án: Ông Nguyễn Xuân Bốn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố HD, tỉnh HD.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố HD tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thu Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2018, tại Tòa án nhân dân thành phố HD, tỉnh HD; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 100/2018/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2018/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

Trần D, sinh năm 1975 tại HD. ĐKHKTT và chỗ ở: Số 01/5 Trần Phú, phường Trần Phú, thành phố HD, tỉnh HD; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thăng (tên gọi khác: Trần Văn Thăng) và bà Nguyễn Thị Thảo; bị cáo chưa có vợ con, là con thứ hai trong gia đình; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/3/2018 đến ngày 09/3/2018 chuyển tạm giam tại trại tạm giam -Công an HD đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Những người tham gia tố tụng khác:

* Người làm chứng:

+ Anh Lê Văn S , sinh năm 1968; trú tại: Khu 10 phường Bình Hàn, thành phố HD, tỉnh HD (vắng mặt);

+ Anh Nguyễn Xuân H , sinh năm 1970; trú tại: 05/05/61 Trần Phú, phường Trần Phú, thành phố HD, tỉnh HD (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tại bản cáo trạng số 113/CT-VKSTPHD ngày 28/5/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố HD, tỉnh HD truy tố Trần D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự với căn cứ:

Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 08/3/2018, tại khu vực đầu xóm Phú Bình, phường Nhị Châu, thành phố HD. Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố HD phát hiện bắt quả tang Trần D có hành vi cất giấu trái phép một gói giấy trắng có chữ in kích thước khoảng 0,5x01cm, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng D tự khai là Heroine cất giấu để sử dụng cho bản thân. Quá trình bắt giữ D và thu giữ gói ma túy có sự chứng kiến của anh Lê Văn S , sinh năm 1968; trú tại: Khu 10 phường Bình Hàn, thành phố HD, tỉnh HD và anh Nguyễn Xuân H , sinh năm 1970; trú tại: 05/05/61 Trần Phú, phường Trần Phú, thành phố HD, tỉnh HD.

Tại cơ quan điều tra Trần D khai nhận: Do bản thân thỉnh thoảng có sử dụng Heroine nên khoảng 9 giờ 45 phút, ngày 08/3/2018 D đến khu vực cầu Phú Lương gặp và mua của một người đàn ông không quen biết một gói Heroin với số tiền 50 nghìn đồng. Sau khi mua được gói ma túy, D cầm gói ma túy trên tay đi bộ đến khu vực xóm Phú Bình thì bị công an thành phố HD phát hiện, do sợ hãi nên D đã thả gói ma túy xuống dưới đất nơi D đang đứng.

Tại kết luận giám định số 214/KLGĐ-PC54 ngày 09/3/2018 Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh HD kết luận: Chất bột (dạng cục) mầu trắng ghi thu của Trần D , gửi đến giám định có khối lượng là 0,127 gam là loại Heroine. Hoàn trả 0,073 gam Heroine.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần D thừa nhận bản thân biết Heroine là chất Nhà nước cấm lưu hành nhưng do đã vài lần sử dụng Heroine nên đã cố ý mua, cất giấu trái phép Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Bị cáo nhất trí với kết luận giám định và không có thắc mắc gì; đồng thời thể hiện thái độ ăn năn hối cải; công nhận Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố HD đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng; bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố HD thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa trình bày quan điểm vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần D từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 08/3/2018.

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ mẫu vật là Heroine và vỏ bao gói hoàn lại sau giám định.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về chứng cứ xác định bị cáo Trần D có tội và áp dụng điều luật:

Tại phiên tòa, bị cáo Trần D thừa nhận vào khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 08/3/2018, tại khu vực đầu xóm Phú Bình, phường Nhị Châu, thành phố HD đã thực hiện hành vi cất giấu trái phép một gói Heroine thì bị phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng. Bị cáo xác định gói Heroine công an thu giữ là của bị cáo đang cầm và thả xuống đất tại vị trí bị cáo đang đứng khi bị bắt. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang (BL30-31), kết luận giám định (BL19). Các chứng cứ nêu trên phù hợp với các chứng cứ khác như: Bản tự khai của bị cáo, biên bản lấy lời khai bị cáo, biên bản hỏi cung bị cáo, biên bản lấy lời khai của người làm chứng đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Từ những chứng cứ nêu trên, có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; thực hiện hành vi cất giấu trái phép chất ma túy với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy Heroine khối lượng 0,127 gam, bị cáo Trần D bị Viện kiểm sát truy tố và bị đưa ra xét xử về tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là đủ căn cứ, đúng người thực hiện hành vi phạm tội và đúng pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Mặt khác, bị cáo có bố đẻ là ông Trần Th (tên gọi khác: Trần Văn Th) ngày 09/10/1989 được Hội đồng Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội về ma túy trong khi tệ nạn ma túy đang có chiều hướng gia tăng. Do vậy cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù trong trại giam tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có đủ tác dụng giáo dục.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với toàn bộ số Heroine và vỏ bao gói hoàn lại sau giám định, xét thấy Heroine là chất Nhà nước cấm lưu hành và vỏ bao gói không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Căn cứ Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang (BL30-31), kết luận giám định (BL19) và sự thừa nhận về hành vi mua, cất giấu trái phép chất ma túy để sử dụng của bị cáo, cơ quan cảnh sát điều tra đã Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Trần Dương đồng thời tiến hành hoạt động điều tra lấy lời khai, hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng là phù hợp với quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra, truy tố; điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về các vấn đề khác: Hành vi bán ma túy cho D của đối tượng nam giới không xác định được. Việc cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm của người này là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c Khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần D 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 08/3/2018.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Heroine và vỏ bao gói hoàn trả sau giám định được đựng trong phong bì niêm phong số 214/KLGĐ-PC54.

(Vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/6/2018 giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố HD và Chi cục thi hành án dân sự thành phố HD).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Trần D phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm hình sự.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ