vanban.org

Bản án 121/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phan Thị B đối với bị đơn anh Cao Văn T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị B đƣợc ly hôn với anh Cao Văn T (Giấy chứng nhận kết hôn số 40, quy n số 01, ngày 02/12/1998 do Ủy ban nhân dân xã C, huyện X, tỉnh Hà Tĩnh cấp). Về con chung: Giao con chung tên Cao Văn C, sinh ngày 14/6/2004 cho chị Phan Thị B trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc. Ghi n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Thị B - Cao Văn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phan Thị B đối với bị đơn anh Cao Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 121/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 28-9-2018
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Nông.

2. Bà Nguyễn Thị Vân Khanh.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Bƣơng.

- i di n i n i m s t nh n d n th x

n t nh nh ương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liễu - Ki m sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 729/2018/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2018 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 130/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 8 năm 2018, giữa các đƣơng sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị B, sinh năm 1977; thƣờng trú: Thôn 11, xã C, huyện X, tỉnh Hà Tĩnh; tạm trú: Tổ 6, khu phố C, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)

2. Bị đơn: Anh Cao Văn T, sinh năm 1975; thƣờng trú: Thôn 11, xã C, huyện X, tỉnh Hà Tĩnh; tạm trú: Tổ 6, khu phố C, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. (Vắng mặt)

3. Người làm chứng: Cao Thị H, sinh năm 1999; thƣờng trú: Thôn 11, xã C, huyện X, tỉnh Hà Tĩnh; tạm trú: Tổ 6, khu phố C, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/7/2018 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Phan Thị B đã trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị B và anh Cao Văn T tìm hi u nhau khoảng 06 tháng thì tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện X, tỉnh Hà Tĩnh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 40, quy n số 01, ngày 02/12/1998.

Sau khi kết hôn, chị N và anh T sinh sống tại thôn 11, xã C, huyện X, tỉnh Hà Tĩnh. Đến năm 2001, anh chị chuy n đến sinh sống, tạm trú tại tổ 6, khu phố C, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng cho đến nay.

Quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2011 phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T không lo làm ăn phụ giúp gia đình, không chăm lo cho các con, hay ăn chơi, bài bạc, cá độ. Từ năm 2011 đến nay, anh T hay bỏ nhà đi đâu không rõ, lâu lâu mới về nhà một lần, mặc dù chị đã nhiều lần khuyên nhủ nhƣng anh T vẫn không thay đổi. Nay chị B xác định tình cảm vợ chồng không còn, không th hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên chị yêu cầu đƣợc ly hôn với anh T.

Về con chung: Quá trình chung sống, chị B và anh T có 02 con chung là Cao Thị H, sinh ngày 12/7/1999 và Cao Văn C, sinh ngày 14/6/2004. Sau khi ly hôn, chị B yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung là Cao Văn C và tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dƣỡng nuôi con. Đối với con chung là Cao Thị H đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về giao ngƣời nuôi con và cấp dƣỡng.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, chị B không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nghĩa vụ chung, nợ chung: Chị B không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình: Chị B chịu theo quy định pháp luật.

- Quá trình tố tụng, bị đơn anh Cao Văn T đã đƣợc Tòa án thông báo thụ lý vụ án, triệu tập làm việc đ làm bản tự khai, cung cấp chứng cứ vào ngày 07/8/2018; tham gia phiên họp ki m tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 24/8/2018; tham gia phiên tòa vào các ngày 11/9/2018 và ngày 28/9/2018, nhƣng anh T vắng mặt không có lý do.

- Biên bản xác minh của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An ngày 20/7/2018 tại UBND phƣờng T th hiện: Hội Liên hiệp phụ nữ phƣờng T không tiếp nhận thông tin từ cơ sở phản ánh về mâu thuẫn vợ chồng và về vấn đề chăm sóc nuôi dạy con chung giữa chị Phan Thị B và anh Cao Văn T, đồng thời không tiếp nhận đơn yêu cầu hòa giải về quan hệ hôn nhân giữa chị B và anh T, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo thẩm quyền.

- Tại bản tự khai ngày 17/7/2018, con anh T, chị B là Cao Văn C, sinh ngày 14/6/2004 có ý kiến: Tôi là con ruột của ông Cao Văn T và bà Phan Thị B. Nếu ba mẹ tôi ly hôn, tôi xin đƣợc sống với mẹ.

- Lời khai của ngƣời làm chứng Cao Thị H: Tôi là con ruột của bố Cao Văn T, mẹ Phan Thị B, hiện đang sinh sống, tạm trú cùng với bố mẹ và em trai Cao Văn C tại tổ 6, khu phố C, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Mẹ tôi làm nghề may gia công tại nhà, thu nhập hơn 10.000.000 đồng/tháng, bố tôi làm gì thì tôi không rõ vì ít khi ở nhà, lâu lâu mới thấy về một lần, mọi việc ở nhà đều do mẹ chăm sóc, lo cho chị em tôi ăn uống, học hành. Quá trình chung sống tôi thấy bố mẹ tôi lúc đầu cũng hạnh phúc, thời gian sau này phát sinh mâu thuẫn, lâu lâu cũng cãi nhau, lý do là bố tôi không phụ giúp gia đình, không chăm lo cho các con, hay bỏ nhà đi đâu nhiều ngày mới về, mẹ tôi khuyên nhủ nhiều lần nhƣng bố tôi không thay đổi, việc này diễn ra khoảng năm 2011 đến nay. Nay mẹ tôi nộp đơn xin ly hôn với bố tôi, tôi đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Riêng tôi đã thành niên nên quyết định sống với mẹ đ phụ giúp mẹ lo cho em.

- Ý kiến của đại diện Viện Ki m sát nhân dân thị xã Dĩ An tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Phan Thị B có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn anh Cao Văn T đƣợc triệu tập hợp lệ 02 lần nhƣng vắng mặt không tham gia phiên tòa, căn cứ đi m b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định. Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân, chị B và anh T có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng đã mâu thuẫn từ năm 2011 cho đến nay, tình cảm không còn nên không th hàn gắn. Do đó, chị B khởi kiện yêu cầu đƣợc ly hôn với anh T là có căn cứ. Về con chung, chị B có nguyện vọng đƣợc trực tiếp nuôi con chung là Cao Văn C và tự nguyện không yêu cầu anh T thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con, đối với con chung là Cao Thị H đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị B có thu nhập đảm bảo việc nuôi con nên yêu cầu này của chị là phù hợp. Mặt khác, nếu anh chị ly hôn, nguyện vọng của cháu Cao Văn C xin đƣợc sống với mẹ. Thực tế anh T không thƣờng xuyên ở nhà, cũng không quan tâm chăm sóc, nuôi dƣỡng con chung. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung và nợ chung: Chị B không yêu cầu Tòa án giải quyết. Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Chị Phan Thị B khởi kiện yêu cầu đƣợc ly hôn đối với anh Cao Văn T và đƣợc nuôi con chung nên đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Phan Thị B có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn anh Cao Văn T đƣợc triệu tập hợp lệ 02 lần nhƣng vắng mặt không tham gia phiên tòa, căn cứ đi m b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị B và anh Cao Văn T là vợ chồng, có tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện X, tỉnh Hà Tĩnh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 40, quy n số 01, ngày 02/12/1998 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.

Chị B xác định trong quá trình chung sống với anh T xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn, không th tiếp tục chung sống đƣợc với nhau. Từ năm 2011 đến nay, anh T không ở nhà thƣờng xuyên, lâu lâu mới về nhà một lần, không phụ giúp chị chăm lo cho con, mặc dù chị B đã nhiều lần khuyên nhủ nhƣng anh T vẫn không thay đổi. Chị B trình bày những mâu thuẫn vợ chồng phù hợp với lời khai của ngƣời làm chứng. Xét mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc, đ đạt đƣợc mục đích đó vợ chồng phải tôn trọng, thƣơng yêu, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát tri n về mọi mặt. Do tình trạng mâu thuẫn kéo dài từ năm 2011 đến nay nên chị B xác định không th tiếp tục quan hệ hôn nhân và không còn tình cảm với anh T. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án và nhiều lần triệu tập đến làm việc nhƣng anh T đều vắng mặt không rõ lý do, không đến tham gia phiên hòa giải đ hàn gắn tình cảm vợ chồng. Đồng thời, anh T cũng không có văn bản nào th hiện thiện chí đƣa ra phƣơng pháp hàn gắn mối quan hệ giữa anh và chị B. Do đó, có cơ sở xác định cuộc sống hôn nhân của chị B và anh T phát sinh nhiều mâu thuẫn, không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Nay chị B yêu cầu đƣợc ly hôn với anh T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình nên có căn cứ chấp nhận.

Về con chung: Chị Phan Thị B và anh Cao Văn T có 02 con chung là Cao Thị H, sinh ngày 12/7/1999 và Cao Văn C, sinh ngày 14/6/2004. Sau khi ly hôn, chị B yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung là Cao Văn C và tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dƣỡng nuôi con. Đối với con chung là Cao Thị H đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh T không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến đối với yêu cầu nuôi con của chị B. Xét trong thời kỳ hôn nhân anh T cũng không phụ giúp chị B chăm lo cho các con, mặt khác anh T không thƣờng xuyên ở nhà. Chị B làm nghề may gia công ở nhà nên cũng đảm bảo thời gian chăm sóc con và thu nhập của chị cũng đảm bảo lo cho con. Do đó, yêu cầu của chị B đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung là phù hợp với nguyện vọng của con, có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án có th quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung và nợ chung: Chị Phan Thị B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ý kiến của đại diện Viện Ki m sát nhân dân thị xã Dĩ An đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí hôn nhân gia đình: Chị Phan Thị B phải chịu án phí theo quy định của của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, đi m b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ đi m a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phan Thị B đối với bị đơn anh Cao Văn T.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị B đƣợc ly hôn với anh Cao Văn T (Giấy chứng nhận kết hôn số 40, quy n số 01, ngày 02/12/1998 do Ủy ban nhân dân xã C, huyện X, tỉnh Hà Tĩnh cấp).

- Về con chung: Giao con chung tên Cao Văn C, sinh ngày 14/6/2004 cho chị Phan Thị B trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Phan Thị B không yêu cầu anh Cao Văn T cấp dƣỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, chị Phan Thị B và anh Cao Văn T có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục đối với con chung chƣa thành niên; không ai đƣợc lạm dụng việc thăm nom cản trở các quyền này. Vì lợi ích hợp pháp của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có th quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dƣỡng.

- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung, nợ chung về tài sản: Chị Phan Thị B không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân gia đình: Chị Phan Thị B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), đƣợc khấu trừ toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0019758 ngày 12/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày k từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết hợp lệ./.

Cỡ chữ