- Tranh chấp gì? "Bản án - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? [1] Điều luật áp dụng: Căn cứ Khoản 1 Điều 321; Điều 36; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điểm a, b Khoản 2, Điểm a khoản 3 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q…
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA TỈNH PHÚ THỌ ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: /2022/HS-ST Ngày: 07/7/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thanh Loan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Văn Tân và ông Đào Trung Kiên
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hậu – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: ông Đỗ Anh Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 7 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2022/HS-ST ngày 20/5/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2022/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị P, sinh ngày 26/10/1988 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu 10, xã N, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Giới tính: Nữ.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không;
Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do
Bố đẻ: Nguyễn Văn S, sinh năm 1960; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1960; Chồng: Nguyễn Việt H, sinh năm 1975. Bị cáo có 02 con (con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2008);
Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã N, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1987
Địa chỉ: Khu 10, xã N, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)
+ Anh Tống Mạnh P, sinh năm 1989
Địa chỉ: khu 11, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng thời gian tháng 01/2022, Nguyễn Thị P, sinh năm 1988, địa chỉ cư trú tại khu 10, xã N, huyện T, tỉnh Phú Thọ có quan biết với Dương Mộng L, sinh năm 1989, trú tại khu R, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Biết L có nhận các số lô, số đề nên P đã điện thoại rồi đặt vấn đề làm thư ký chuyển các số lô, số đề cho L để hưởng phần trăm hoa hồng và được L đồng ý.
Cách thức đánh bạc dưới hình thức số lô, số đề là căn cứ kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày để xác định thắng thua. Nếu người mua số đề trùng với hai chữ số cuối của giải đặc biệt thì trúng thưởng (thắng) và P phải trả cho người mua với tỷ lệ là 1.000đ sẽ trúng 70.000đ (gấp 70 lần). P bán số lô với giá là 23.000đ/1 điểm lô; Nếu số lô người mua trùng với hai chữ số cuối của tất cả các giải thì trúng thưởng (thắng), P trả cho người mua 80.000đ/1 điểm lô. P bán lô, số đề cho người có nhu cầu chơi bạc đến 18 giờ cùng ngày thì P sử dụng điện thoại di động chụp ảnh, nhắn tin điện thoại chuyển các số lô số đề cho L. P và L tự thoả thuận về tiền hoa hồng bán số lô, số đề: đối với khách mua số đề đa phần khách chỉ phải trả cho P trung bình 75% tổng số tiền mua số đề, P cho khách hưởng hoa hồng 25% tiền đề. P giữ lại 3% để hưởng lợi và nộp cho L 72% tổng số tiền khách mua số đề. Đối với tiền bán lô, P nộp cho L 22.000đ/ điểm lô, chỉ giữ lại 1000đ/1 điểm lô để hưởng lợi. Khoảng 10 ngày thì P và L thanh toán tiền của các bảng lô, đề một lần.
Nguyễn Thị P đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề cụ thể:
* Ngày 04/01/2022: Khoảng 17 giờ, Hoàng Văn T đi bộ đến chợ Đ nơi P đang bán hàng và mua của P số đề 59, 95 mỗi số 100.000đ, tổng số tiền T mua số đề là 200.000đ, số tiền này T đã trả cho P ngoài ra P không bán số lô, số đề cho ai khác. Tổng số tiền P bán số lô, số đề ngày 04/01/2022 là 200.000đ. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền bắc mở thưởng cùng ngày thì Hoàng Văn T không trúng thưởng.
* Ngày 05/01/2022: Khoảng 17 giờ 30 ngày 05/01/2022, Hoàng Văn T đi bộ đến chợ Đ nơi P đang bán hàng và mua của P số đề 17, 71 mỗi số 50.000đ, tổng số tiền T mua lô là 100.000đ, số tiền này T đã trả cho P.
Khoảng 17 giờ 50, Nguyễn Văn M sử dụng điện thoại di động Iphone 6 Plus, gắn sim số 0979327862 vào mạng xã hội Facebook “T” của M nhắn đến tài khoản Facebook “G” của P của P mua số lô 79, 83, mỗi số lô là 100 điểm tổng số là 200 điểm, P có nhắn tin lại cho M “ok” tức P đồng ý bán các số lô này cho M. Tổng số tiền P bán số lô cho M là 4.600.000đ, số tiền này M chưa thanh toán cho P.
Khoảng 18 giờ, Tống Mạnh P nhắn tin cho P qua Zalo từ điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, gắn sim số 0982701xxx đến điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, gắn sim số 0966076xxx của P với nội dung là P đánh số lô 43, 26 mỗi số 50 điểm; số đề 43, 26 mỗi số 100.000đ; số đề 34, 62, 01, 10 mỗi số 50.000đ, tổng số tiền là 2.600.000đ. P nhắn lại okê và P chỉ lấy của P 2.500.000đ. Sau khi mua số lô số đề của Nguyễn Thị P xong, Tống Mạnh P đã sử dụng tài khoản ngân hàng của P - số tài khoản 105872508xxx, mở tại Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam (Viettinbank) chuyển vào tài khoản của P - số tài khoản 105871299xxx mở tại Ngân hàng N (V) số tiền 2.500.000đ.
Tổng số tiền P bán số lô, số đề này 05/01/2022 là 7.300.000đ. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền bắc mở thưởng cùng ngày thì Nguyễn Văn M, Hoàng Văn T và Tống Mạnh P đều không trúng thưởng.
* Ngày 06/01/2022:
Khoảng 17 giờ ngày 06/01/2022, Hoàng Văn T đi bộ đến chợ Đ nơi P đang bán hàng và mua của P số lô 53 là 100 điểm, P bán cho T với giá 22.000đ/ 01 điểm lô, tổng tiền T mua lô là 2.200.000đ, số tiền này T đã trả cho P.
Khoảng 17 giờ 40 phút, Nguyễn Văn M sử dụng điện thoại di động như đã nêu trên vào mạng xã hội Facebook “T” của M nhắn tin đến tài khoản Facebook “G” của P mua 04 số lô, mỗi số lô 10 điểm, tổng số là 40 điểm, P nhắn tin lại cho M “ok” tức là P đồng ý bán các số lô này cho M. Tổng số tiền P bán số lô cho M là 920.000đ, số tiền này M chưa thanh toán cho P.
Tổng số tiền P bán số lô, số đề ngày 06/01/2022 là 3.120.000đ. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền bắc mở thưởng cùng ngày thì bảng đề ngày 06/01/2022, Nguyễn Văn M và Hoàng Văn T không trúng thưởng.
* Ngày 07/01/2022: Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 07/01/2022, Nguyễn Văn M sử dụng điện thoại di động như đã nêu trên vào mạng xã hội Facebook “ T” của M nhắn đến tài khoản Facebook “G” của P mua số lô 15 là 100 điểm, số lô 33 là 50 điểm, P có nhắn tin lại cho M “ok” tức là P đồng ý bán các số lô này cho M. Tổng số tiền chị P bán số lô cho M là 3.450.000đ ngoài ra P không bán số lô, số đề cho ai khác.
Đối với số tiền mua, bán số lô, số đề giữa Nguyễn Thị P với Nguyễn Văn M vào các ngày mùng 05, mùng 06 và ngày 07/01/2022 là 8.970.000đ, M đã sử dụng tài khoản ngân hàng của M, số tài khoản 0351000738xxx, mở tại Ngân hàng N (V) chuyển tiền vào tài khoản của P, số tài khoản 105871299xxx mở tại Ngân hàng N (V) số tiền 5.000.000đ; M còn nợ P số tiền mua số lô, số đề là 3.970.000đ.
Vật chứng của vụ án thu giữ gồm:
- 16.246.000đ gồm tạm giữ của Nguyễn Thị P: 10.938.000đ; Tạm giữ của Nguyễn Văn M: 5.308.00đ là số tiền sử dụng vào việc phạm tội.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, số Imei 354692275620xxx gắn sim số 0966076xxx của Nguyễn Thị P; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, số Imei 355835087791xxx gắn sim số 0979327xxx của Nguyễn Văn M; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus gắn sim số 0982701xxx của Tống Mạnh P. Qua kiểm tra đã xách minh nội dung lưu trữ trên điện thoại các đối tượng sử dụng trong hành vi phạm tội đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 17/CT-VKSTB ngày 20/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Thị P về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa hôm nay Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội “ Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 36; Điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự;
- Xử phạt Nguyễn Thị P từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ; Đề nghị khấu trừ thu nhập đối với bị cáo từ 100.000đ đến 200.000đ/tháng trong thời gian chấp hành án theo quy định của pháp luật; miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphon 12 Pro Max có gắn sim số 0966.076.xxx thu giữ của Nguyễn Thị P; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphon 6 Plus có gắn sim số 0979327xxx thu giữ của Nguyễn Văn M và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphon 7 Plus có gắn sim số 0982.701.xxx thu giữ của Tống Mạnh P.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền bị cáo P thu được từ việc mua bán số lô đề là 10.100.000đ là tiền bị cáo P.
Trả lại cho Nguyễn Thị P số tiền 838.000đ là tiền riêng của cá nhân bị cáo không liên quan đến hành vi đánh bạc nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Tịch thu của Nguyễn Văn M số tiền 3.970.000đ là tiền bị cáo tham gia đánh bạc; Trả lại cho Nguyễn Văn M số tiền 1.338.000đ đã thu giữ do số tiền này không liên quan đến hành vi đánh bạc.
Về án phí: bị cáo Nguyễn Thị P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung:
+ Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Thị P thừa nhận: Ngày 05/01/2022, Nguyễn Thị P đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề với tổng số tiền là 7.300.000đ, cụ thể: bán số lô, số đề cho Nguyễn Văn M với số tiền là 4.600.000đ; Hoàng Văn T với số tiền là 100.000đ; Tổng Mạnh P với số tiền là 2.600.000đ.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai bị cáo khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó có đủ căn cứ pháp lý để kết luận bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
+ Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo:
Đây là vụ án có tính chất ít nghiêm trọng. Tuy nhiên, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ, gây bất bình trong nhân dân, làm mất trật tự trị an ở địa phương. Hơn nữa hành vi của bị cáo còn là mầm mống gây nên các hậu quả nghiêm trọng khác. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật; đều có điều kiện để nhận thức về pháp luật, có sức khỏe và hiểu biết xã hội nhưng đã coi thường pháp luật dẫn đến phạm tội. Vì vậy vụ án cần phải đưa ra xét xử kịp thời và nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung;
Bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
+ Về khấu trừ thu nhập: Tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự quy định, người bị kết án cải tạo không giam giữ bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ Nhà Nước. Bị cáo P là lao động tự do, bị cáo xác định có thu nhập bình quân hàng tháng khoảng 5.000.000đ/ tháng. Xét khấu trừ thu nhập đối với bị cáo P 5% = 250.000đ/tháng trong thời gian chấp hành án là phù hợp.
+ Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 3 điều 321 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, bị cáo không có tài sản riêng gì lớn, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp pháp luật.
Đối với hành vi đánh bạc dưới hình thức mua các số lô, số đề của Nguyễn Thị P các ngày 04/01/2022, 06/01/2022 và ngày 07/01/2022; hành vi đánh bạc của Nguyễn Văn M, Tống Mạnh P, Hoàng Văn T: do số tiền từng lần sử dụng đánh bạc của các đối tượng đều dưới 5.000.000đ, nhân thân của P, M, P, T đều chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Đối với Dương Mộng L: quá trình cơ quan điều tra xác minh, xác định, bản thân L đã bán nhà ở khu R, thị trấn P, huyện P, Phú Thọ, sau đó L đã đi khỏi địa phương. Cơ quan điều tra đã thông báo truy tìm nhưng chưa có kết quả. Vì vậy cơ quan điều tra không xem xét hành vi của Dương Mộng L trong vụ án này là phù hợp.
Về vật chứng:
- Đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphon 12 Pro Max có gắn sim số 0966076xxx thu giữ của Nguyễn Thị P; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphon 6 Plus có gắn sim số 0979327xxx thu giữ của Nguyễn Văn M và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphon 7 Plus có gắn sim số 0982.701.xxx thu giữ của Tống Mạnh P: đây là các vật dụng các bị cáo cùng Nguyễn Văn M và Tống Mạnh P sử dụng liên lạc để thực hiện hành vi đánh bạc, xét cần tịch thu để bán sung quỹ Nhà nước.
- Đối với số tiền 10.938.000đ thu giữ của Nguyễn Thị P: P đã bán số lô, số đề cho những người tham gia đánh bạc các ngày 04/01/2022; 05/01/2022, 06/01/2022, 07/01/2022 với tổng số tiền là 14.070.000đ, trong đó, số tiền thực tế P đã thu được từ việc đánh bạc là 10.100.000đ cần tịch thu sung quỹ Nhà nước; (số tiền còn lại 3.970.000đ M chưa thanh toán cho P).
+ Số tiền còn lại 838.000đ là tiền riêng của bị cáo P không liên quan đến hành vi đánh bạc, xét trả lại cho bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Đối với số tiền 5.308.000đ thu giữ của Nguyễn Văn M: M đã tham gia đánh bạc trong các ngày 05, 06, 07/01/2022 với tổng số tiền là 8.970.000đ, trong đó đã thực hiện việc chuyển khoản cho P số tiền là 5.000.000đ, còn lại 3.970.000đ M vẫn giữ lại chưa chuyển cho P, vì vậy cần tịch thu số tiền 3.970.000đ sung quỹ Nhà nước. Số tiền còn lại 1.338.000đ thu giữ của M không liên quan đến việc đánh bạc, xét trả lại cho Nguyễn Văn M là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Điều luật áp dụng: Căn cứ Khoản 1 Điều 321; Điều 36; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điểm a, b Khoản 2, Điểm a khoản 3 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
[2] Về tội danh và mức hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo Nguyễn Thị P cho UBND xã N, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Khấu trừ 5% thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Thị P = 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng)/ tháng để sung quỹ Nhà nước. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng kể từ khi bị cáo chấp hành án cho đến khi bị cáo chấp hành xong hình phạt cải tạo không giam giữ.
Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ trong cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần. (không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng theo quy định đối phụ nữ có thai, người bị bệnh hiểm nghèo, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng).
Trong thời gian cải tạo không giam giữ, người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự về cải tạo không giam giữ.
[3] Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphon 12 Pro Max có gắn sim số 0966076xxx thu giữ của Nguyễn Thị P; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphon 6 Plus có gắn sim số 0979327xxx thu giữ của Nguyễn Văn M và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphon 7 Plus có gắn sim số 0982.701.321 thu giữ của Tống Mạnh P để bán sung quỹ Nhà nước.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 10.100.000đ (mười triệu một trăm nghìn đồng chẵn) đã thu giữ của Nguyễn Thị P;
+ Trả lại cho Nguyễn Thị P số tiền 838.000đ (tám trăm ba mươi tám nghìn đồng chẵn) đã thu giữ P nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Tịch thu của anh Nguyễn Văn M số tiền 3.970.000đ (Ba triệu chín trăm bẩy mươi nghìn đồng chẵn) là tiền đã sử dụng để đánh bạc.
Trả lại cho Nguyễn Văn M số tiền 1.338.000đ (một triệu ba trăm ba mươi tám nghìn đồng chẵn) không liên quan đến hành vi đánh bạc.
(Các vật chứng có tình trạng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15/6/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Phú Thọ)
[4] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị P phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo P có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hà Thanh Loan
| Nơi nhận: - Bị cáo; Những người TGTT - VKSND huyện Thanh Ba; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - Cơ quan THA hình sự; - Cơ quan THA dân sự h Thanh Ba; - Công an huyện Thanh Ba; - Lưu hồ sơ, VP.ỘI | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thanh Loan |