- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vo Thị T - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Thị T; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 115/2026/HS-ST ngày 29 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi về hình phạt đối với bị cáo Võ Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 120/2026/HS-PT Ngày 18-9-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hải Nam.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Pho và ông Nguyễn Công Diễn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Hiền Thương - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thùy Linh - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 18 tháng 9 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 156/2026/TLPT-HS ngày 27 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo Võ Thị T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 115/2026/HS-ST ngày 29 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi.
- Bị cáo có kháng cáo:
Võ Thị T, sinh ngày 03/6/1967 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; căn cước công dân số: 051167005447, cấp ngày 28/6/2021; con ông Võ S (đã chết) và bà Nguyễn Thị L (đã chết); có chồng là Phạm Đình L1, sinh năm 1968; có 02 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1992; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 29/7/2021 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 20.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 51/2021/HSPT, đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này chưa được xóa án tích.
Nhân thân: Ngày 26 tháng 8 năm 2020 bị Công an xã B (C) xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” tại Quyết định số 28/QĐ-XPHC (Đã thi hành xong ngày 09/9/2020).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 28/4/2026 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 18/02/2026, bị cáo Võ Thị T cùng với Cao Thị Ngọc T1, Hoàng Thị L2, Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị T2, Cao Ngọc Đ, Cao Thành L3, Huỳnh Đình T3, Trần Phú H đến nhà bà Trần Thị P để thăm chúc tết. Đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, Trần Thị P rủ Võ Thị T, Cao Thị Ngọc T1, Hoàng Thị L2, Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị T2 đánh bài “xì dách” ăn tiền thì mọi người đồng ý. Trần Thị P lấy 01 bộ bài và 01 cái mền màu vàng - xanh có sẵn ở nhà để chơi đánh bạc. Cùng lúc này, Huỳnh Đình T3 thấy ngay hè nhà bà Trần Thị P sẵn bộ cờ cá ngựa cùng tô sứ có 01 viên xúc xắc nên rủ Cao Thành L3, Cao Ngọc Đ, Trần Phú H chơi cờ cá ngựa ăn tiền thì mọi người đồng ý tham gia. Đến 12 giờ 30 phút cùng ngày, Công an xã B phát hiện vụ việc nên tiến hành lập biên bản, tạm giữ tại chiếu bạc gồm Trần Thị P, Võ Thị T, Cao Thị Ngọc T1, Hoàng Thị L2, Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị T2, số tiền đánh bạc là 1.950.000 đồng; chiếu bạc gồm Huỳnh Đình T3, Cao Thành L3, Cao Ngọc Đ, Trần Phú H số tiền đánh bạc là 2.720.000 đồng.
Trong số những người vi phạm, bị cáo Võ Thị T đã có 01 tiền án về tội đánh bạc (ngày 29/7/2021, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tuyên phạt 20.000.000 đồng theo Bản án số 51/2021/HSPT) tính đến ngày 18/02/2026 bị cáo chưa được xoá án tích.
Bản án hình sự sơ thẩm số 115/2026/HS-ST ngày 29/7/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi đã tuyên bố bị cáo Võ Thị T phạm tội “Đánh bạc”; áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 38 và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Về hình phạt bổ sung, cấp sơ thẩm không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 03/8/2026, bị cáo Võ Thị T kháng cáo cho rằng mức hình phạt 06 tháng tù là quá nặng; bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật, thực sự hối hận; bản thân đã 59 tuổi, không có việc làm ổn định, phải chăm sóc chồng bị tai biến nằm một chỗ, không có khả năng lao động, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Bị cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo hoặc chuyển sang hình phạt nhẹ hơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Võ Thị T vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Thị Thu G nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 115/2026/HS-ST ngày 29 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi về hình phạt đối với bị cáo Võ Thị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Võ Thị T trong thời hạn luật định và đúng quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về tội danh: Lời khai nhận của bị cáo tại cấp sơ thẩm phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định khoảng 10 giờ đến 12 giờ 30 phút ngày 18/02/2026, tại nhà bà Trần Thị P, bị cáo Võ Thị T cùng những người khác đánh bài “xì dách” được, thua bằng tiền với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 1.950.000 đồng. Bị cáo đã bị kết án về tội “Đánh bạc” và chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Xét kháng cáo xin hưởng án treo hoặc chuyển sang hình phạt nhẹ hơn của bị cáo Võ Thị T, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi của bị cáo xâm phạm trật tự công cộng. Mặc dù số tiền dùng vào việc đánh bạc là 1.950.000 đồng, nhưng bị cáo đã từng bị kết án về tội “Đánh bạc”, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc; vào ngày 26 tháng 8 năm 2020, bị cáo bị Công an xã B (C) xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” tại Quyết định số 28/QĐ-XPHC, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật chưa tốt. Vì vậy, cần có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo 06 tháng tù là mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Mức hình phạt này là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo trình bày bản thân đã 59 tuổi, là lao động tự do, thu nhập không ổn định, chồng bị tai biến, không có khả năng lao động và cần người chăm sóc. Tuy nhiên bị cáo không giao nộp được chứng cứ hiện nay vợ chồng bị cáo sống riêng các con của bị cáo không giúp đỡ cho vợ chồng bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Thị T và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 115/2026/HS-ST ngày 29/7/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi về hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên cấp sơ thẩm không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp; Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên quyết định này.
Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Võ Thị T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 115/2026/HS-ST ngày 29/7/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Thị T; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 115/2026/HS-ST ngày 29 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi về hình phạt đối với bị cáo Võ Thị T.
2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Võ Thị T phạm tội “Đánh bạc”.
3. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Võ Thị T 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Võ Thị T.
4. Về án phí: Bị cáo Võ Thị T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
5. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 115/2026/HS-ST ngày 29/7/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - Phòng HSNV Công an tỉnh Quảng Ngãi; - TAND, VKSND khu vực 2 - Quảng Ngãi; - Phòng THADS khu vực 2 - Quảng Ngãi; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Quảng Ngãi; - UBND, Công an xã Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hải Nam |