- Tranh chấp gì? án hình sự — "DƯƠNG VĂN C VÀ ĐP - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Dương Văn C và Nguyễn Hoài L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 120/2025/HS-ST Ngày 13-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thành Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Thảo;
2. Ông Nguyễn Quốc Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thuyến - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trọng - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 101/2025/HSST ngày 24 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2025/HSST-QĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:
1/ Nguyễn Hoài L, sinh năm 2002 tại K; địa chỉ thường trú: Ấp T, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1984 và bà Lê Thị H, sinh năm 1983; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không;
Ngày 21/11/2024 thực hiện hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị bắt quả tang và bị tạm giữ từ ngày 21/11/2024 đến ngày 30/11/2024 bị khởi tố bị can và chuyển sang tạm giam cho đến nay; bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Dương; có mặt.
2/ Dương Văn C, sinh năm 1998 tại G; địa chỉ thường trú: thị trấn P, huyện C, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1985; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không;
Ngày 21/11/2024 thực hiện hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị bắt quả tang và bị tạm giữ từ ngày 21/11/2024 đến ngày 30/11/2024 bị khởi tố bị can và chuyển sang tạm giam đến nay; bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Dương; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị Diễm H, sinh năm 1997; nơi cư trú: Xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk; chỗ ở hiện nay: Khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
Người làm chứng: Ông Trần Văn V, ông Trần Văn P; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Các bị cáo Nguyễn Hoài L và Dương Văn C quen biết nhau, cả 02 cùng nghiện ma túy loại Methamphetamine.
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 21/11/2024, do cần có ma túy để sử dụng nên L và C cùng thoả thuận mỗi người góp 200.000 đồng để mua ma túy về phòng trọ sử dụng, C đưa cho L 200.000 đồng. Sau đó, L điều khiển xe mô tô biển số 68G1 – 475.53 chở C đi đến khu vực phía trước quán cà phê Kim Vàng thuộc phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương để tìm gặp người nam thanh niên (không rõ lý lịch, địa chỉ) mua ma túy (L biết người nam thanh niên bán ma túy do được bạn không rõ nhân thân giới thiệu trước đó).
Khi đến quán cà phê, L và C gặp người bán ma túy, L hỏi mua 400.000 đồng ma túy rồi đưa tiền và nhận 01 gói ma túy cất vào trong ống quần Jean bên trái, sau đó điều khiển xe chở C quay về phòng trọ. Khi C và L chạy xe về đến khu phố V, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì bị tổ tuần tra Công an thành phố T kiểm tra phát hiện trong ống quần Jean bên trái của L có 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng nên tiến hành niêm phong rồi đưa L và C đến trụ sở Công an phường T, thành phố T để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng gồm: 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, 01 xe mô tô biển số 68G1 – 475.53 và 01 khẩu trang y tế màu xanh.
Sau đó, Công an phường T bàn giao L, C cùng hồ sơ vụ việc, vật chứng cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên thụ lý theo thẩm quyền.
Tại Bản kết luận giám định số 5517/MT - PC09 ngày 27/11/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: 01 (Một) gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng thu giữ của Dương Văn C và Nguyễn Hoài L là chất ma túy loại Methamphetamine, trọng lượng 0,5891 gam.
Xe mô tô biển số 68G1 – 475.53 do bà Nguyễn Thị Diễm H đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Bà khai nhận: Do L không có xe để đi nên L mượn xe 68G1 – 475.53 của bà H để làm phương tiện đi lại. Việc L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bà H hoàn toàn không biết. Ngày 20/02/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên ban hành Quyết định xử lý vật chứng số 664/QĐ-CQCSĐT trả lại xe mô tô biển số 68G1 – 475.53 cho bà H.
Cáo trạng số 124/CT-VKSTU ngày 24 tháng 4 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố các bị cáo Dương Văn C và Nguyễn Hoài L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt:
- Bị cáo Dương Văn C từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
- Bị cáo Nguyễn Hoài L từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, tuyên: Tịch thu, tiêu hủy 01 bì thư kí hiệu 5517/PC09 niêm phong theo kết luận giám định ngày 27/11/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương và 01 khẩu trang y tế màu xanh.
Các bị cáo không trình bày lời bào chữa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không trình bày ý kiến tranh luận.
Nói lời sau cùng, các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để phấn đấu cải tạo tốt, sớm hòa nhập với cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, thống nhất với nhau về quá trình thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Ngày 21/11/2024, các bị cáo Dương Văn C và Nguyễn Hoài L đã đi mua 0,5891 gam ma túy loại Methamphetamine tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương với mục đích để sử dụng. Khi các bị cáo đang trên đường quay về phòng trọ thì bị Công an phát hiện bắt giữ. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên đã truy tố đối với các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ; đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sử dụng chất ma túy và các chất gây nghiện. Các bị cáo nhận thức được hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý nhưng vì muốn có ma túy sử dụng, thỏa mãn cơn nghiện nên đã bất chấp hậu quả, cố ý phạm tội. Do đó, cần có hình phạt tương xứng với tính chất, vai trò, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
Về vai trò và đồng phạm: Vụ án có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn; các bị cáo cùng rủ nhau góp tiền và cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Hình phạt mà Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đề nghị xử phạt đối với các bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Đối với xe mô tô biển số 68G1 - 475.53 do bà Nguyễn Thị Diễm H (là chị ruột của bị cáo L) đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Bà H cho bị cáo L mượn xe để làm phương tiện đi lại. Việc bị cáo L sử dụng xe để đi mua, tàng trữ ma túy thì bà H hoàn toàn không biết. Do đó, ngày 20/02/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên ban hành Quyết định xử lý vật chứng số 664/QĐ-CQCSĐT trả lại xe mô tô biển số 68G1 – 475.53 cho bà H là phù hợp.
Đối với người thanh niên đã có hành vi bán ma túy cho bị cáo L và bị cáo C ngày 21/11/2024, kết quả điều tra chưa xác định được lý lịch, địa chỉ nên chưa có căn cứ xử lý; do đó Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý là có căn cứ.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Đối với lượng ma túy còn lại sau giám định và 01 khẩu trang y tế đã thu giữ là chất cấm, vật chứng của vụ án nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Các bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Dương Văn C và Nguyễn Hoài L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Dương Văn C 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/11/2024.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài L 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/11/2024.
3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, tuyên: Tịch thu, tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định được chứa trong 01 bì thư niêm phong kí hiệu 5517/PC09 theo kết luận giám định ngày 27/11/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh Bình Dương và 01 khẩu trang y tế màu xanh.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/4/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương).
4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Buộc các bị cáo Dương Văn C và Nguyễn Hoài L phải chịu mỗi bị cáo là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - PV06, Công an tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Tân Uyên; - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thành Hiệp |