vanban.org

Bản án 120/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 120/2025/HNGĐ-ST.
Ngày: 21/8/2025.
Về việc: “Xin ly hôn và nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đặng Thanh Sang

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Kim Hoa

Bà Đoàn Thanh Thúy

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Diệp - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 – An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – An Giang tham phiên tòa: Không.

Ngày 21 tháng 8 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - An Giang xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 117/2025/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025 về việc: “Xin ly hôn và nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST - HNGĐ, ngày 04 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Ngọc H, sinh năm 1991 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: đặc khu P, tỉnh A.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1988 (Vắng mặt).

Địa chỉ: tổ 2, ấp M, xã S, tỉnh A.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Huỳnh Ngọc H trình bày như sau:

- Về hôn nhân: Chị Huỳnh Ngọc H và anh Nguyễn Văn L kết hôn vào năm 2010 và có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Sơn Bình, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 08/10/2010. Thời gian đầu, vợ chồng sống rất hạnh phúc, tuy nhiên thời gian sau thì giữa chị H và anh L phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi. Đến đầu năm 2024 mâu thuẫn giữa chị H và anh L trở nên trầm trọng nên anh chị đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể hàn gắn được. Do đó, chị H yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn L.

- Về con chung: Chị Huỳnh Ngọc H và anh Nguyễn Văn L trong thời gian chung sống có hai người con chung tên Nguyễn Huỳnh K, sinh ngày 09/6/2011 và Nguyễn Huỳnh Bảo D, sinh ngày 27/9/2019, hiện con chung tên K đang sống cùng anh L, con chung tên D đang sống cùng chị H. Ly hôn, chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Huỳnh Bảo D đến tuổi trưởng thành và đồng ý giao con chung tên Nguyễn Huỳnh K cho anh L nuôi dưỡng đến tuổi trưỡng thành. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Chị Huỳnh Ngọc H và anh Nguyễn Văn L không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Chị Huỳnh Ngọc H và anh Nguyễn Văn L không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Văn L trình bày: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Nguyễn Văn L. Tuy nhiên, anh L không đến Tòa án để làm việc và không thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Tòa án không ghi nhận được lời khai của anh Nguyễn Văn L trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện nguyên đơn chị Huỳnh Ngọc H yêu cầu được ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Văn L. Bị đơn cư trú tại ấp M, xã S, tỉnh A. Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - An Giang theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Điều 5 Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định về việc “Hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân”.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Huỳnh Ngọc H có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Văn L đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt nguyên đơn chị Huỳnh Ngọc H và bị đơn anh Nguyễn Văn L tại phiên tòa.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử có cơ sở xác định chị Huỳnh Ngọc H và anh Nguyễn Văn L kết hôn vào năm 2010, có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Sơn Bình, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 08/7/2010. Như vậy, hôn nhân giữa chị Huỳnh Ngọc H và anh Nguyễn Văn L là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Theo đơn khởi kiện chị Huỳnh Ngọc H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn L do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi và anh chị đã sống ly thân từ đầu năm 2024 cho đến nay không quan tâm, chăm sóc nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án có tống đạt các văn bản tố tụng cho anh L hợp lệ nhưng anh L vẫn vắng mặt không đến Tòa án để hòa giải đoàn tụ với chị H và chị H vẫn cương quyết ly hôn. Từ những chứng cứ nêu trên có căn cứ để chứng minh được mối quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh L đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn và hôn nhân không đạt được mục đích. Nên việc chị H xin ly hôn với anh L Hội đồng xét thấy có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị Huỳnh Ngọc H và anh Nguyễn Văn L xác định anh chị có hai người con chung tên Nguyễn Huỳnh K, sinh ngày 09/6/2011 và Nguyễn Huỳnh Bảo D, sinh ngày 27/9/2019, hiện con chung tên K đang sống cùng anh L, con chung tên D đang sống cùng chị H.

Xét yêu cầu nuôi con của chị H thì Hội đồng xét xử nhận thấy: Hiện chị H là người đang trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu D. Trong quá trình chung sống với chị H thì cháu D được chị H chăm sóc, nuôi dưỡng và phát triển bình thường. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống của cháu D, giúp cháu D phát triển tốt về mặt thể chất và tinh thần. Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Huỳnh Bảo D cho chị H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Đối với con chung tên Nguyễn Huỳnh K chị H đồng ý giao cho anh L nuôi dưỡng điều này cũng được cháu K đồng ý (theo bản tự khai ngày 07/7/2025 cháu K có nguyện vọng được sống cùng anh L). Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của chị H giao con chung tên Nguyễn Huỳnh K cho anh Nguyễn Văn L nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Huỳnh Ngọc H trình bày có đủ khả năng để nuôi dưỡng con chung nên không yêu cầu anh Nguyễn Văn L phải cấp dưỡng nuôi con và chị H cũng không cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét

Về tài sản chung: Chị Huỳnh Ngọc H xác định anh chị không có tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về nợ chung: Chị Huỳnh Ngọc H xác định anh chị không có nợ ai và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị Huỳnh Ngọc H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Áp dụng Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

- Áp dụng các Điều 56; 58; 81; 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Ngọc H.

1/. Về hôn nhân: Chị Huỳnh Ngọc H được ly hôn với anh Nguyễn Văn L.

2/. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Huỳnh Bảo D, sinh ngày 27/9/2019 cho chị Huỳnh Ngọc H tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Giao con chung tên Nguyễn Huỳnh K, sinh ngày 09/6/2011cho anh Nguyễn Văn L tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Chị Huỳnh Ngọc H và anh Nguyễn Văn L đều có quyền được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản theo quy định của pháp luật.

3/. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Huỳnh Ngọc H và anh Nguyễn Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

4/. Về tài sản chung: Không có yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên không xét.

5/. Về nợ chung: Không có yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên không xét.

6/. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Huỳnh Ngọc H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Huỳnh Ngọc H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009994 ngày 27/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 – An Giang). Theo đó chị H không phải nộp thêm.

7/. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ