- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 120/2024/HS-ST Ngày: 19 - 06 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ -TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Tất Ngọc Trân
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Chung Kim Sang
- Ông Trần Lệ Nga
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Bắc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Phong- Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 114/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 05 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 05 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: V, sinh năm: 1986, nơi đăng ký thường trú: Số 297 Nguyễn Thị Định, phường Vĩnh Hiệp, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: ngư phủ, trình độ học vấn: 07/12; giới tính: nam, Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không. Cha: Nguyễn Hoàng Phong, sinh năm: 1966; mẹ: Nguyễn Thị Hiền, sinh năm: 1968. Em ruột có 02 người lớn nhất sinh năm 1988 và nhỏ nhất sinh năm 1990.
Tiền án, tiền sự: không có.
Ngày 02/02/2024 bị cáo thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, bị bắt quả tang, bị tạm giữ đến ngày 08/02/2024 chuyển tạm giam theo Lệnh số 133. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Rạch Giá.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người chứng kiến:
- Võ Minh K-sinh năm: 2005.(vắng mặt)
Cư trú: Tổ 15 ấp Tân Hưng, xã Mỹ Lâm, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
- Thái Trung T, sinh năm: 1996.(vắng mặt)
Cư trú: Số 19 Lý Tự Trọng, phường Vĩnh Thanh Vân, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Vật chứng đưa ra xem xét tại phiên toà: Không.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 13 giờ 10 phút ngày 02/02/2024 tại số 297, Nguyễn Thị Định, khu phố Thông Chữ, phường Vĩnh Hiệp, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố Rạch Giá kết hợp với công an phường Vĩnh Hiệp bắt quả tang V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Thu giữ trên nền gạch trong phòng ngủ của V 01 bịch tăm bông bên trong có chứa 01 bịch nylon trong suốt được hàn kín, bên trong có chưa các hạt chất rắn màu trắng không đồng nhất, V khai nhận là ma tuý đá (bút lục số 01-12).
Qua điều tra xác định, V bắt đầu sử dụng ma tuý từ khoảng tháng 07 năm trước. cách ngày bị bắt khoảng 02 ngày, V được 01 người bạn tên Dễ (không biết họ tên, địa chỉ) cho 01 bịch ma tuý. V đã mang bịch ma tuý trên về nhà sử dụng một ít, số còn lại V cất vào bịch tăm bông và để trong phòng ngủ của V. Đến 13 giờ ngày 02/02/2024 V bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ số ma tuý nói trên (bút lục số 51,52,60,61,69-72)
Ngày 02/02/2024 bị cáo thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, bị bắt quả tang, bị tạm giữ đến ngày 08/02/2024 chuyển tạm giam theo Lệnh số 133. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Rạch Giá.
* Vật chứng vụ án: - 01 (Một) bịch tăm bông bên trong có chứa 01 bịch nylon trong suốt được hàn kín, bên trong có chứa các hạt chất rắn màu trắng không đồng nhất, được niêm phong theo quy định (bút lục 12a).
* Tại Kết luận giám định 129/KL-KTHS, ngày 07/02/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận: Các hạt chất rắn, màu trắng chứa trong 01 (một) bịch nylon trong suốt hàn kín được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,2224 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ, (bút lục số 16).
* Tại bản cáo trạng số 132/CT-VKSRG ngày 08/05/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo V mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo không có thu nhập ổn định.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy ma túy còn lại sau giám định gồm: 01 (một) phong bì niêm phong, bên ngoài ghi niêm phong mẫu vật vụ số: 106/2024 ngày 07 tháng 02 năm 2024, có chữ ký của giám định viên Thái Thị Thanh Thuỷ, người chứng kiến niêm phong Phạm Huỳnh Thanh Long và hình dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.
Theo quyết định chuyển vật chứng số 76 ngày 08/05/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá (bút lục số 84).
- Đối với người thanh niên tên Dễ (chưa rõ nhân thân lai lịch) đã bán ma tuý cho bị cáo V, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố Rạch Giá phải tiếp tục điều tra làm rõ, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
* Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra - Công an thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai của bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo V khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, cụ thể:
Vào lúc 13 giờ 10 phút ngày 02/02/2024 tại số 297, Nguyễn Thị Định, khu phố Thông Chữ, phường Vĩnh Hiệp, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố Rạch Giá kết hợp với công an phường Vĩnh Hiệp bắt quả tang V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Thu giữ trên nền gạch trong phòng ngủ của V 01 bịch tăm bông bên trong có chứa 01 bịch nylon trong suốt được hàn kín, bên trong có chưa các hạt chất rắn màu trắng không đồng nhất qua giám định là chất ma tuý, qua giám định là là Methamphetamine, có khối lượng là 0.2224 gam. Ngày 02/02/2024 bị cáo thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, bị bắt quả tang, bị tạm giữ đến ngày 08/02/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Rạch Giá.
Từ những căn cứ trên, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo V cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như cáo trạng đã truy tố của Viện Kiểm Sát là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Xét về nhân thân, hành vi, động cơ, tính chất, mức độ và hậu quả trong việc phạm tội của bị cáo: Bị cáo V là người có nhân thân tốt, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, Tuy nhiên hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi hình sự, bị cáo ý thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất về ma túy. Do đó, cần xét xử bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội. Đồng thời, qua xét xử nhằm tuyên truyền tác hại ma túy, ngăn ngừa chung loại tội phạm này trong xã hội.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa, bị cáo V đã thành khẩn khai báo thừa nhận hành vi phạm tội, tỏ ra ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự theo đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo đề nghị của Viện Kiểm sát.
Về Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Áp dụng khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy ma túy còn lại sau giám định gồm: 01 (một) phong bì niêm phong, bên ngoài ghi niêm phong mẫu vật vụ số: 106/2024 ngày 07 tháng 02 năm 2024, có chữ ký của giám định viên Thái Thị Thanh Thuỷ, người chứng kiến niêm phong Phạm Huỳnh Thanh Long và hình dấu tròn của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.
Theo quyết định chuyển vật chứng số 76 ngày 08/05/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá (bút lục số 84).
Các vấn đề khác: Đối với người thanh niên tên Dễ (chưa rõ nhân thân lai lịch) đã cho ma tuý cho bị cáo V, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố Rạch Giá phải tiếp tục điều tra làm rõ, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm d mục 1.2 phần II Danh mục án phí của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo V mức án 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, tạm giữ ngày 02/02/2024.
2. Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên: tịch thu tiêu hủy ma túy còn lại sau giám định gồm: 01 (một) phong bì niêm phong, bên ngoài ghi niêm phong mẫu vật vụ số: 106/2024 ngày 07 tháng 02 năm 2024, có chữ ký của giám định viên Thái Thị Thanh Thuỷ, người chứng kiến niêm phong Phạm Huỳnh Thanh Long và hình dấu tròn của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.
Theo quyết định chuyển vật chứng số 76 ngày 08/05/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá (bút lục số 84).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 19/06/2024). * Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Kiên Giang; - Viện kiểm sát Tp. Rạch Giá; - Chi cục THA Tp.Rạch Giá; - CQĐT- Công an thành phố Rạch Giá; - Nhà tạm giữ - CA Tp. Rạch Giá; - Bị cáo; Đương sự. - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Tất Ngọc Trân |