- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Như T phạm tội “Đánh bạc”. - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Lê Như T phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 120/2024/HS-ST Ngày: 14-3-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Huy Công
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Công Danh
Bà Thiều Thị Phi Loan
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Quang Minh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 98/2024/TLST-HS ngày 06/02/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2024/QĐXXST-HS ngày 22/02/2024, Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên toà xét xử vụ án số 139/TB-TA ngày 07/3/2024 đối với bị cáo:
Lê Như T, sinh năm 1981 tại Đồng Nai. Nơi cư trú: 40K/37, khu phố H, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Như H, sinh năm 1937 (đã chết) và bà Chu Thị S, sinh năm 1943 (đã chết); Bị cáo là con út trong gia đình có 08 (T1) anh, chị; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 07/7/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm.
Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 19/11/2023, sau đó chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an thành phố B.
(Bị cáo - có mặt tại phiên tòa)
- Người bào chữa cho bị cáo T:
1. Ông Lê Quang Y, sinh năm 1970
2. Ông Nguyễn Đức Đ, sinh năm 1968
Luật sư Công ty L, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ.
Cùng địa chỉ: A, đường V, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Ông Đ có mặt, ông Y- có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Như T, sinh năm 1981, thường trú: 40K/37, KP8, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai có 01 tiền án về tội đánh bạc do Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, đang trong thời gian thử thách.
Ngày 19/11/2023, tại quán C1: 2, KP2, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Lê Như T cùng Lê Thái C, sinh năm 1981, thường trú: tổ H, KP2, phường T, thành phố B; Hoàng Văn D, sinh năm 1980, thường trú thôn S, xã M, huyện L, tỉnh Yên Bái và 02 đối tượng tên H1 và Đ1 (không rõ nhân thân, lai lịch) đánh bạc ăn tiền bằng hình thức đánh bài Cát tê. Cách thức đánh bạc: Sử dụng bộ bài tây 52 lá, mỗi người được chia 06 lá và mức đặt cược như nhau 10.000 đồng/lượt (ván), ai thua thì lấy tiền trong người ra chung, không đặt tiền trên bàn, không có người cầm cái. Nếu có hơn một người tới trắng, người thắng sẽ được xác định theo độ mạnh của bộ B1 tới trắng. Nếu không có ai thắng trắng, người bắt đầu vòng chơi đánh xuống 1 lá bài, người tiếp theo (thứ tự ngược chiều kim đồng hồ) phải đánh ra 1 lá bài lớn hơn và đồng chất với lá bài đó hoặc úp xuống bàn 1 lá bài bất kỳ trên tay mình xuống. Vòng chơi kết thúc khi tất cả mọi người đều đã đánh hoặc úp bài, người chơi đánh xuống lá bài to nhất vòng được giữ lại (tồn) lá bài đó và được bắt đầu vòng tiếp theo. Sau 4 vòng đầu, những người không giữ được lá bài nào (không có tồn) sẽ bị xử thua ngay và dừng cuộc chơi (gục tùng); Nếu chỉ có một người có tồn thì người đó sẽ được xử thắng ngay (thắng tùng), ván bài kết thúc; Nếu nhiều hơn một người có tồn, những người này sẽ tiếp tục chơi vòng 5 tương tự như 4 vòng đầu, vòng 6 mọi người cùng ngửa lá bài trên tay mình cách tính tồn tương tự các vòng trước. Người có bài tồn vòng 6 lớn hơn sẽ được xử thắng, ván bài kết thúc.
Người thắng ván bài sẽ ăn tiền của tất cả những người chơi còn lại; trường hợp thắng trắng, mỗi người thua bị mất cho người thắng trắng bằng 02 lần tiền cược.
Đến 10 giờ 15 phút cùng ngày Công an phường T tuần tra phát hiện 05 đối tượng đang tham gia đánh bạc trái phép được thua bằng tiền nên bắt giữ 03 đối tượng gồm: Lê Như T, Lê Thái C, Hoàng Văn D, 02 đối tượng đã chạy thoát tên H1 và Đ1 (không rõ nhân thân, lai lịch) nên lập biên bản phạm tội quả tang.
Quá trình điều tra xác định số tiền dùng để đánh bạc và kết quả thắng thua của từng người như sau:
1. Lê Như T mang theo số tiền 160.000 đồng sử dụng toàn bộ để đánh bạc, thắng 100.000 đồng, khi bị bắt thu giữ trên người 260.000 đồng là tiền sử dụng để đánh bạc.
2. Lê Thái C mang theo số tiền 1.870.000 đồng sử dụng 770.000 đồng để đánh bạc, thua 30.000 đồng, khi bị bắt thu giữ trên người 1.840.000 đồng (trong đó 740.000 đồng là tiền sử dụng đánh bạc; 1.100.000 đồng không sử dụng đánh bạc).
3. Hoàng Văn D mang theo số tiền 1.690.000 đồng sử dụng toàn bộ để đánh bạc, thua 80.000 đồng, khi bị bắt thu giữ trên người 1.590.000 đồng và trước chỗ ngồi 20.000 đồng là tiền sử dụng để đánh bạc.
Vật chứng thu giữ và xử lý gồm:
- 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng.
- Tổng số tiền sử dụng vào đánh bạc 2.610.000đồng (Hai triệu sáu trăm mười ngàn đồng). Trong đó thu giữ trên người con bạc gồm: 260.000 đồng của Lê Như T; 740.000 đồng của Lê Thái C; 1.590.000 đồng của Hoàng Văn D và 20.000 đồng trước chỗ ngồi của Hoàng Văn D.
- Số tiền không sử dụng vào việc đánh bạc 1.100.000 đồng. (một triệu một trăm ngàn đồng) Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho Lê Thái C.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo khai nhận hành vi đánh bạc đúng như nội dung Cáo trạng đã thể hiện, giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo là Luật sư Nguyễn Đức Đ: Đề nghị xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cụ thể: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo tham gia đánh bạc với số tiền ít, bị cáo là người hiền lành, trình văn hóa hạn chế, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt (Bố, mẹ đã chết). Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức thấp nhất của khung hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T với mức hình phạt từ: 06 (Sáu) đến 08 (T1) tháng tù.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 2.610.000đ, tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bộ bài tây 52 lá (đã qua sử dụng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi và quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
. Người bào chữa cho bị cáo là ông Lê Quang Y có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 291 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Y.
. Về hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo:
. Tại phiên tòa lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với vật chứng thu giữ, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:
Ngày 19/11/2023, tại quán C1: 2, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai bị cáo Lê Như T, Lê Thái C, Hoàng Văn D, cùng 02 đối tượng chưa rõ nhân thân lai lịch đánh bạc trái phép bằng hình thức “Cát tê” thắng thua bằng tiền, số tiền để đánh bạc là 2.610.000 đồng (Hai triệu, sáu trăm mười nghìn đồng) thì bị phát hiện. Trước đó, bị cáo Lê Như T có một tiền án về tội đánh bạc trái phép, đang trong thời gian thử thách án treo.
. Hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 119/CT-VKSBH ngày 02/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa là có cơ sở, đúng người và đúng tội.
. Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự xã hội tại địa phương, làm gia tăng tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã bị xét xử về hành vi đánh bạc, nhận thức được việc đánh bạc dưới mọi hình thức thắng thua bằng tiền nhằm sát phạt lẫn nhau đều vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, cần xử bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
. Xét thấy, bị cáo Lê Như T đang trong thời gian thử thách án treo nhưng cố ý thực hiện hành vi phạm tội mới. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Chuyển hình phạt án treo thành hình phạt tù, buộc bị cáo Lê Như T phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp cùng hình phạt của bản án này. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án theo quy định. Thời gian bị tạm giữ, tạm giam của bị cáo Lê Như T từ ngày 26 tháng 10 năm 2020 đến ngày 13 tháng 11 năm 2020 theo Bản án 92/2021/HSST ngày 07 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai được trừ vào thời gian chấp hành án.
. Về các biện pháp tư pháp:
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 2.610.000đ. Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bộ bài tây 52 lá (đã qua sử dụng).
. Về các nội dung khác liên quan đến vụ án:
. Đối với Lê Thái C, Hoàng Văn D có hành vi đánh bạc cùng với bị cáo Lê Như T, qua xác minh chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc; số tiền dùng để đánh bạc dưới 5.000.000 đồng không đủ định lượng nên Công an đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
. Đối với 02 đối tượng tên H1 và Đ1 chưa rõ lai lịch đã chạy thoát khi lực lượng Công an bắt quả tang. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh xử lý sau. Đối với bà T2 chủ quán cà phê không biết bị cáo và những người tham gia chơi đánh bạc thắng thua bằng tiền nên không xem xét trách nhiệm hình sự đối với bà T2.
. Xét quan điểm của người bào chữa cho bị cáo phù hợp với một phần nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.
. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố Biên Hòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo: Lê Như T phạm tội “Đánh bạc”.
1. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 3 Điều 54, Điều 56 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Lê Như T: 07 (B) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo tại Bản án 92/2021/HSST ngày 07 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai thành hình phạt tù. Buộc bị cáo Lê Như T phải chấp hành hình phạt chung của 02 (Hai) bản án là: 02 (Hai) năm 01 (Một) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 19 tháng 11 năm 2023. Thời gian bị tạm giữ, tạm giam của bị cáo Lê Như T từ ngày 26/10/2020 đến ngày 13/11/2020 theo Bản án 92/2021/HSST ngày 07 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai được trừ vào thời gian chấp hành án.
2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
2.1. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 2.610.000đ (Hai triệu, sáu trăm mười nghìn đồng). Theo Biên lai thu tiền số 0002680 ngày 12 tháng 03 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.
2.2. Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bộ bài tây 52 lá. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05 tháng 3 năm 2024 giữa Bên giao là đại diện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B và Bên nhận là đại diện Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa; - Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa; - Uỷ ban nhân dân phường (xã) của bị cáo cư trú; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Công an thành phố Biên Hòa; - Bị cáo; - Lưu. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Huy Công HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Huy Công |