vanban.org

Bản án 120/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nH toàn bộ đơn yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Hồng Tđối với anh Huỳnh Ghi H.

Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hồng Tvới anh Huỳnh Ghi H. Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Hồng Tvới anh Huỳnh Ghi H chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án tranh chấp ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Hồng T với ông Huỳnh Ghi H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nH toàn bộ đơn yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Hồng Tđối với anh Huỳnh Ghi H.
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BĐ, TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 120/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 12/9/2024
V/v “Ly hôn giữa chị Tvới anh H”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BĐ, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Phi.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Hoàng Mích.

2. Ông Nguyễn Tường Bích.

- Thư ký phiên Tòa: Bà Lê Thị Kim T- Thư ký Tòa án nhân dân huyện BĐ, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện BĐ, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Phan Hoàng Quí - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện BĐ, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 132/2024/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 189/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 157/2024/QĐST - HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1993 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số 25/31, Đường Lý TK, phường 4, quận GV, thành phố Hồ Chí Minh.

* Bị đơn: Huỳnh Ghi H, sinh năm 1992 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Long An, xã LH, huyện BĐ, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 12/3/2024, những lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng, nguyên đơn Nguyễn Thị Hồng Ttrình bày:

Chị Nguyễn Thị Hồng Tvới anh Huỳnh Ghi H tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2012, hai bên đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Thuận, huyện BĐ, tỉnh Bến Tre vào năm 2012. Sau khi cưới, thời gian đầu, vợ chồng chung sống có hạnh phúc nhưng đến tháng 10 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cự cải nhau, anh H không lo làm ăn, xây dựng gia đình. Chị Tcố gắng hàn gắn, thuyết phục anh H để xây dựng lại hạnh phúc gia đình, tuy nhiên không có kết quả, từ đó dẫn đến tình cảm vợ, chồng không còn. Vợ chồng chị T, anh H đã sống ly thân từ tháng 10/2022 cho đến nay. Chị Nguyễn Thị Hồng Tyêu cầu Tòa án giải quyết một số vấn đề sau đây:

Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Huỳnh Ghi H.

Về nuôi con chung: Có 02 con chung tên là Huỳnh Nguyễn TNgọc, sinh ngày 25/02/2013; Huỳnh Nguyễn TNhi, sinh ngày 23/01/2018. Sau khi ly hôn, chị Tyêu cầu anh Huỳnh Ghi H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Huỳnh Nguyễn TNgọc, Huỳnh Nguyễn TNhi. Chị Tkhông phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn Huỳnh Ghi H trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, anh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh H đều vắng mặt không có lý do, mặc dù anh H vẫn còn đang sinh sống tại địa phương, nên không thu thập được lời khai, ý kiến hay yêu cầu của anh H.

* Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện BĐ, tỉnh Bến Tre tham gia phiên Tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

Thẩm phán thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến khi ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử. Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự trong quá trình xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng Tthực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự, tuy nhiên bị đơn Huỳnh Ghi H không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, vắng mặt tại phiên tòa là vi phạm khoản 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Chấp nH đơn yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Hồng Tđối với anh Huỳnh Ghi H.

Về nuôi con chung: Anh Huỳnh Ghi H được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Huỳnh Nguyễn TNgọc, sinh ngày 25/02/2013; Huỳnh Nguyễn TNhi, sinh ngày 23/01/2018.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Hồng Tkhông đồng ý cấp dưỡng nuôi con, anh H cũng không có yêu cầu gì đối với việc cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Tkhai không có, anh H cũng không có yêu cầu gì nên không xem xét, giải quyết.

NH ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nH định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Nguyễn Thị Hồng Tcó đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; Bị đơn Huỳnh Ghi H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Chị Nguyễn Thị Hồng Tvới anh Huỳnh Ghi H tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2012, hai bên có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên được công nH là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, không hàn gắn được. Hiện tại, ai cũng có cuộc sống riêng, không quan tâm đến nhau và ly thân từ tháng 10/2022 cho đến nay. Trong quá trình tố tụng, Toà án đã triệu tập chị Tvới anh H để hoà giải, nhằm tạo điều kiện cho hai bên có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh H vắng mặt không lý do, đồng thời chị Tcũng có yêu cầu xét xử vắng mặt cho thấy hai bên đã không còn quan tâm và không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với nhau. Từ đó, đủ cơ sở xác định cuộc sống vợ, chồng giữa chị T với anh H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị Tlà có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên được Hội đồng xét xử chấp nH.

[3] Về nuôi con chung:

Hội đồng xét xử xét thấy: Hai con chung Huỳnh Nguyễn TNgọc, sinh ngày 25/02/2013; Huỳnh Nguyễn TNhi, sinh ngày 23/01/2018 đều đang sống chung với anh H, do đó cần giao anh Huỳnh Ghi H được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Huỳnh Nguyễn TNgọc; Cháu Huỳnh Nguyễn TNhi để đảm bảo sự phát triển bình thường của các cháu, đồng thời cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Nguyễn TNgọc trên 07 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Hồng Tkhông đồng ý cấp dưỡng nuôi con, anh H không có yêu cầu gì đối với việc cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, giải quyết.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Tkhai không có, anh H cũng không có yêu cầu gì nên không xem xét, giải quyết.

[5] Đối với lời trình bày của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện BĐ về quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật cũng như nH định của Hội đồng xét xử nên được chấp nH.

[6] Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Áp dụng quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Chị Nguyễn Thị Hồng Tphải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84, 107, 116, 119 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nH toàn bộ đơn yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Hồng Tđối với anh Huỳnh Ghi H.

Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hồng Tvới anh Huỳnh Ghi H.

Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Hồng Tvới anh Huỳnh Ghi H chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về nuôi con chung: Huỳnh Ghi H được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Huỳnh Nguyễn TNgọc, sinh ngày 25/02/2013; Huỳnh Nguyễn TNhi, sinh ngày 23/01/2018 (Phù hợp với nguyện vọng của cháu Ngọc trên 07 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Huỳnh Ghi H không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

Chị Nguyễn Thị Hồng Tkhông trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Anh Huỳnh Ghi H trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở chị Nguyễn Thị Hồng Ttrong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84, Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Chị Nguyễn Thị Hồng Tphải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị Tđã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0003461 ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện BĐ, tỉnh Bến Tre.

Như vậy, chị Nguyễn Thị Hồng Tđã nộp đủ án phí.

Các đương sự chị Nguyễn Thị Hồng T, anh Huỳnh Ghi H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nH được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./. Nơi nH:

Cỡ chữ