vanban.org

Bản án 120/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Ngọc T đối với bị đơn ông Võ Hoàng D và bà Lê Kim H. Buộc ông Võ Hoàng D và bà Lê Kim H có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Lê Ngọc T số tiền 318.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, có đơn yêu cầu của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi su… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Ngọc T đối với bị đơn ông Võ Hoàng D và bà Lê Kim H. Buộc ông Võ Hoàng D và bà Lê Kim H có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Lê Ngọc T số tiền 318.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠNH PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 120/2024/DS-ST
Ngày: 29 – 7 - 2024
V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Miêng

2. Ông Nguyễn Văn Tưởng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khánh Nguyên – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Tài – Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 183/2024/TLST– DS ngày 26 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 64/2024/QĐST–DS ngày 11 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Lê Ngọc T, sinh năm: 1981. Nơi cư trú: số nhà 4/5 ấp TB, thị trấn TP, huyện TP, tỉnh BT. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Ông Võ Hoàng D, sinh năm: 1976. Nơi cư trú: 81/4 khu phố D, thị trấn TP, huyện TP, tỉnh BT (vắng mặt không có lí do)

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Kim H, sinh năm: 1977. Nơi cư trú: 81/4 khu phố D, thị trấn TP, huyện TP, tỉnh BT (vắng mặt không có lí do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện, trong quá trình tố tụng nguyên đơn ông Lê Ngọc T trình bày:

Ngày 21/11/2023 ông có cho ông Võ Hoàng D mượn số tiền 300.000.000 đồng, thời hạn trả là 01 tháng kể từ ngày 21/11/2023, mục đích vay để đáo hạn Ngân hàng, xoay sở cuộc sống gia đình, mục đích vay không có thỏa thuận lãi xuất. Khi vay hai bên có viết biên nhận mượn tiền và ông D có ký xác nhận. Sau khi mượn ông D không trả tiền mượn đúng cam kết nên và cho đến nay vẫn chưa trả tiền mượn cho ông mặc dù ông đã nhiều lần yêu cầu ông D trả nợ.

Trước đây ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Võ Hoàng D và bà Lê Kim H (vợ ông D) có nghĩa vụ liên đới trả cho ông số tiền gốc 300.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 21/12/2023 với lãi xuất theo quy định pháp luật. Nay ông yêu cầu ông Võ Hoàng D và bà Lê Kim H có nghĩa vụ liên đới trả cho ông số tiền gốc 300.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 22/12/2023 với lãi xuất theo quy định pháp luật.

Đối với lời trình bày của ông D với việc ông và ông D có thỏa thuận lãi xuất là cứ vay 500.000.000 đồng thì đóng lãi 2.500.000 đồng/ngày là hoàn toàn không có, nếu ông cho ông D vay có lãi thì đã ghi lãi xuất vào giấy nợ. Đối với khoản tiền ông D mượn tiền tôi 300.000.000 đồng này, tôi không có nhận khoản tiền lãi nào từ ông D.

*Trong quá trình tố tụng theo biên bản lấy lời khai ngày 08/5/2024 bị đơn ông Võ Hoàng D trình bày:

Năm 2023 ông có vay của ông T số tiền 500.000.000 đồng để có váo đáo hàng Ngân hàng, lãi xuất hai bên thỏa thuận là mỗi ngày ông có nghĩa vụ trả cho ông T 2.500.000 đồng tiền lãi. Sau đó ông có trả cho ông T được 300.000.000 đồng còn nợ lại 200.000.000 tiền gốc. Số tiền ông T khởi kiện 300.000.000 đồng là tiền gốc 200.000.0000 đồng và tiền lãi 100.000.000 đồng do ông và ông T cộng lại thành số tiền tiền 300.000.000 đồng và lập biên nhận nợ ông ký xác nhận số niền nợ trên.

Nên nay ông T khởi kiện ông có nghĩa vụ trả số tiền 300.000.000 đồng trên ông cũng đồng ý trả. Nhưng do đang làm ăn khó khăn nên ông xin tra dần mỗi tháng 10.000.000 đồng cho đến khi nào hết nợ.

Quá trình vay ông có chuyển khoản đóng lãi cho ông T được khoảng 200.000.000 đồng, ông không nhớ chuyển thời gian cụ thể. Nhưng do tiền lãi là do ông và ông T tự nguyện thỏa thuận nên ông không yêu cầu Tòa án xem xét số tiền lãi mà ông đã đóng cho ông T.

Bà Lê Kim H là vợ ông, hiện đang sống chung nhà với ông. Do làm ăn bên ngoài là do ông quyết định nên khi vay tiền của ông T ông không thống báo cho vợ ông biết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Kim H đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng đều vắng mặt nên không có lời trình bày.

* Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về trình tự, thủ tục: Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72, 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào Điều 26, 35, 39 và 217 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 357, 463, 466, 468 và 470 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Ngọc T buộc ông Võ Hoàng D và bà Lê Kim H có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Lê Ngọc T 300.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 22/12/2023 với lãi xuất theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn Lê Ngọc T yêu cầu bị đơn ông Võ Hoàng D và bà Lê Kim H trả tiền vay nên xác định đây là tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn đơn ông Võ Hoàng D và bà Lê Kim H có nơi cư trú tại thị trấn TP, huyện TP, tỉnh BT nên theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú.

Về tố tụng: Bị đơn ông Võ Hoàng D và bà Lê Kim H được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng; nguyên đơn ông Lê Ngọc T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các bên đương sự là phù hợp quy định tại các Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung tranh chấp: Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Lê Ngọc T yêu cầu bị đơn ông Võ Hoàng D và bà Lê Kim H có nghĩa vụ liên đới trả số tiền gốc 300.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 22/12/2023 với lãi xuất theo quy định pháp luật.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Hợp đồng vay tài sản được xác lập giữa nguyên đơn ông Lê Ngọc T với bị đơn ông Võ Hoàng D được giao kết trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, cả hai đều có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự nên được xem là hợp đồng hợp pháp. Khi khởi kiện nguyên đơn Lê Ngọc T cung cấp 01 biên nhận mượn tiền ngày 21/11/2023 thể hiện ông Võ Hoàng D mượn ông Lê Ngọc T số tiền 300.000.000 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông D thừa nhận nội dung biên nhận trên ông và ông T có xác lập biên nhận mượn tiền trên và còn nợ ông T 300.000.000 đồng. Vì vậy, nguyên đơn không cần phải chứng minh cho số tiền 300.000.000 đồng mà bị đơn còn nợ theo yêu cầu khởi kiện của mình được quy định tại khoản 2, 3 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu tính lãi suất của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn trong một thời gian dài nên yêu cầu tính lãi của nguyên đơn được chấp nhận.

Lãi suất được tính như sau:

- Từ ngày 22/12/2023 đến ngày 29/7/2024 là 7 tháng 7 ngày. Nên lãi suất là: Số tiền gốc 300.000.000 đồng x 0.83% x 07 tháng 07 ngày = 18.011.000 đồng.

Đối với yêu cầu của ông Lê Ngọc T buộc trách nhiệm liên đới giữa ông Võ Hoàng D và vợ bà Lê Kim H: Quá trình giải quyết bà H không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông Lê Ngọc T. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án ông D thừa nhận ông D và bà H là vợ chồng hiện đang sống chung nhà và giữa ông D và bà H có đăng ký kết hôn ngày 31/8/2016. Nên theo quy định tại Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về trách nhiệm liên đới của vợ, chồng. Hội đồng xét xử xét thấy khi ông D thực hiện giao dịch dân sự với ông T thì ông D và bà H là vợ chồng được pháp luật công nhận tức việc ông D vay tài sản của ông T được thực hiện trong thời kỳ hôn nhân giữa ông D và bà H, đồng thời ông D tiền vay tiền mục đích để đáo hạn Ngân hàng nhằm phục vụ kinh tế gia đình chung nên cần buộc trách nhiệm liên đới của của bà H với ông D trả số tiền vay cho ông T là có căn cứ.

Từ những căn cứ trên, việc ông T yêu cầu ông D và bà H có nghĩa vụ liên đới trả số tiền gốc 300.000.000 đồng và tiền lãi 18.011.000 đồng, tổng cộng 318.011.000 đồng là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 39, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, Điều 217, khoản 2 Điều 244, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ các Điều 357, 463, 466, 468 và 470 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Ngọc T đối với bị đơn ông Võ Hoàng D và bà Lê Kim H. Buộc ông Võ Hoàng D và bà Lê Kim H có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Lê Ngọc T số tiền 318.011.000 đồng.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, có đơn yêu cầu của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Ông Lê Ngọc T được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.500.000 đồng theo biên lai thu số 0000136 ngày 24/4/2024.

Ông Võ Hoàng D và bà Lê Kim H có nghĩa vụ liên đới nộp 15.900.550 đồng.

3. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ