- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Minh T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 120/2023/HSST Ngày 20 tháng 06 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Chu Thị Hà
Ông Đặng Thế Vinh
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Đức Minh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên toà:
Ông Lương Đình Quý - Kiểm sát viên
Trong ngày 20 tháng 06 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội xét xử trực tuyến sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 103/2023/ TLST - HS ngày 26 tháng 05 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2022/QĐXXST – HS ngày 14 tháng 06 năm 2023 đối với bị cáo:
Phạm Minh T, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1989
ĐKHKTT: Thửa đất 103, tờ bản đồ 00, tập thể L, phường V, quận Đ, Hà Nội; Chỗ ở: Số 07 ngách 05 ngõ 95 đường C, tổ dân phố số **, phường V, quận Đ, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Phạm Ngọc C và bà Lê Thị M.
Nhân thân:
- Năm 2004, bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản - Ngoài thời hiệu;
- Năm 2011, bị xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ công cụ hỗ trợ - Ngoài thời hiệu;
- Ngày 15/3/2012, Toà án nhân dân quận B – thành phố Hà Nội xử phạt 42 tháng tù giam về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Bản án số 62/HSST), ra trại ngày 26/7/2014, xác minh thi hành án dân sự đã nộp án phí - Án tích đã xóa.
Tiền án: 01 tiền án
Ngày 18/5/2021, Toà án nhân dân quận N – thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Bản án số 84/HS-ST), ra trại ngày 06/4/2022 - Án tích chưa được xóa.
Phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 14/2/2023, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/02/2023; Hiện bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt lại như sau:
Khoảng 14 giờ 50 phút ngày 14/02/2023, tổ công tác công an phường L phát hiện Phạm Minh T có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra tại số 03 ngõ 22 phố V, phường L, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Quá trình kiểm tra, T đã tự nguyện lấy từ túi quần trước bên trái 01 túi ni lông chứa 02 viên nén màu hồng và 01 túi ni lông chứa tinh thể màu trắng giao nộp cho tổ công tác và khai là “thuốc lắc”, ma túy “đá” của T để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ, niêm phong tang vật đưa về trụ sở Công an phường để giải quyết. Xét nghiệm Phạm Minh T dương tính với ma túy.
Tiến hành khám xét nơi ở của Phạm Minh T tại số 07 ngách 05 ngõ 95 đường C, tổ dân phố số **, phường V, quận Đ, Hà Nội không phát hiện và thu giữ được gì liên quan đến ma túy (BL số 67).
Tại Bản Kết luận giám định số 936/KL-KTHS ngày 21/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi ni lông là ma túy loại Methemphetamine, khối lượng: 0,361 gam và 02 viên nén màu hồng bên trong 01 túi ni lông là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng: 0,898 gam (BL số 30).
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Minh T khai: T sử dụng ma túy từ năm 2022. Tối ngày 13/02/2023, T đến ngã tư phố T – phố Y, phường L, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội mua của 01 người đàn ông không quen biết 01 túi ni lông chứa 02 viên nén màu hồng là ma túy “thuốc lắc” và 01 túi ni lông chứa tinh thể màu trắng là ma túy “đá” với giá 1.600.000 đồng. Sau đó, T mang số ma túy trên về nhà và sử dụng một ít ma túy “đá”. Khoảng 14 giờ 50 phút ngày 14/02/2023, T mang theo số ma túy còn lại đến trước số 03 ngõ 22 Hàng Vôi, phường L, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội để tìm chỗ sử dụng thì tổ công tác kiểm tra, bắt giữ như đã nêu trên.
Về người đàn ông bán ma túy cho T, do T khai không rõ tên tuổi địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ, xử lý.
Bản Cáo trạng số 101/CT-VKS ngày 24/05/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố Phạm Minh T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Minh T khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Qua xét hỏi, thẩm vấn tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Minh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy như nội dung bản cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt Phạm Minh T từ 24 đến 28 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đã niêm phong có chữ ký của đương sự Phạm Minh T, giám định viên Trần Ngọc C, người chứng kiến Vũ Hoàng L, cán bộ Công an phường Trần Quang Đ, bên trong có: 01 túi ni lông bên trong chứa 0,361 gam ma túy Methemphetamine (PC09-CATP Hà Nội trích mẫu 0,101 gam; còn lại 0,26 gam), 01 túi ni lông bên trong chứa 0,898 gam ma túy loại MDMA (PC09-CATP Hà Nội trích mẫu 0,259 gam; còn lại 0,639 gam).
Nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, Viện Kiểm sát truy tố bị cáo là đúng, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàn Kiếm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Khoảng 14 giờ 50 phút ngày 14/02/2023, Phạm Minh T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,361 gam ma túy loại Methamphetamine và 0,898 gam ma túy loại MDMA để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật tại số 03 ngõ 22 Hàng Vôi, phường L, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Hành vi của bị cáo Phạm Minh T có đủ dấu hiệu cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm là đúng.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý của Nhà nước và xã hội nên phải xử lý nghiêm khắc.
Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ nhận thức về tác hại của ma túy, nhưng vẫn sa vào tệ nạn ma túy nên cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để áp dụng mức hình phạt tương xứng.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, bị cáo có ông nội là Đảng viên được tặng 60 năm tuổi Đảng, Huân chương kháng chiến hạng Nhì và bà ngoại được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhì; ăn năn hối cải nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đã niêm phong có chữ ký của đương sự Phạm Minh T, giám định viên Trần Ngọc C, người chứng kiến Vũ Hoàng L, cán bộ Công an phường Trần Quang Đ, bên trong có: 01 túi ni lông bên trong chứa 0,361 gam ma túy Methemphetamine (PC09-CATP Hà Nội trích mẫu 0,101 gam; còn lại 0,26 gam), 01 túi ni lông bên trong chứa 0,898 gam ma túy loại MDMA (PC09-CATP Hà Nội trích mẫu 0,259 gam; còn lại 0,639 gam).
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Phạm Minh T 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 14/2/2023.
3. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đã niêm phong có chữ ký của đương sự Phạm Minh T, giám định viên Trần Ngọc C, người chứng kiến Vũ Hoàng L, cán bộ Công an phường Trần Quang Đ, bên trong có: 01 túi ni lông bên trong chứa 0,361 gam ma túy Methemphetamine (PC09-CATP Hà Nội trích mẫu 0,101 gam; còn lại 0,26 gam), 01 túi ni lông bên trong chứa 0,898 gam ma túy loại MDMA (PC09-CATP Hà Nội trích mẫu 0,259 gam; còn lại 0,639 gam).
(Các vật chứng được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm theo Biên bản giao nhận ngày 14/6/2023).
4. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; - VKSND quận Hoàn Kiếm; - Công an quận Hoàn Kiếm; - CC THA DS quận Hoàn Kiếm; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ; - Lưu VP/TA | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Lệ Hằng |