vanban.org

Bản án 120/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 24/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật áp dụng:

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vương Hồng Th 03 (ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 19/3/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vương Hồng Th vi phạm quy định về tham gia GTĐB - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 120/2023/HS-ST
Ngày 24 tháng 7 năm 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Vượng

Ông Nguyễn Văn Môn

Thƣ ký phiên toà: Bà Tống Lan Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 7 năm 2023, tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Giang, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử phiên tòa trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 101/2023/HSST ngày 21 tháng 6 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2023/QĐST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vƣơng Hồng Th, sinh năm 2003. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Thôn CS 1, xã BL, huyện HSP, tỉnh Hà Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông: Vương Văn Th, sinh năm: 1981; Con bà: Vương Thị X, sinh năm: 1981; Vợ, con: Chưa có. Tiền án: không; Tiền sự: không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/3/2023. Hiện tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh Bắc Giang, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo:

1. Ông Trần Thanh Bình – Trợ giúp viên pháp lý

2. Ông Thân Văn Lợi – Trợ giúp viên pháp lý

Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Giang. Địa chỉ: Số 663, đường Lê Lợi, phường Dĩnh Kế, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang (Ông Bình vắng mặt, ông Lợi có mặt)

* Bị hại: Lương Văn L, sinh năm: 1998 (đã chết)

Đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Bà Lê Thị L, sinh năm: 1971 (vắng mặt)

2. Ông Lương Văn S, sinh năm: 1968 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn ĐL, xã TM, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Vương Văn Th, sinh năm 1981. Địa chỉ: Thôn CS 1, xã BL, huyện HSP, tỉnh Hà Giang (Có mặt)

*Người làm chứng: Anh Kim Ngọc Th sinh năm: 1998

ĐKHKTT: Thôn Làng Mới, xã X, huyện YT, tỉnh Bắc Giang. Tạm trú: Xóm 2, thôn MĐ1, thị trấn N, huyện VY, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vương Hồng Th, sinh năm 2003, trú tại Thôn CS 1, xã BL, huyện H, tỉnh Hà Giang thuê phòng trọ của gia đình ông Lương Văn Sơn, sinh năm 1968, trú tại thôn ĐL, xã TM, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang và đi làm công nhân công ty Hồng Hải tại khu công nghiệp Đình Trám, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Th không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định.

Khoảng 20 giờ ngày 18/03/2023, Th dùng điện thoại di động nhắn tin rủ anh Kim Ngọc Th, sinh năm 1998, trú tại thôn Làng Mới, xã X, huyện YT, tỉnh Bắc Giang làm cùng công ty với Th đến quán ốc Mai Trang ở thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang để ăn uống. Sau đó, Th gọi điện rủ anh Lương Văn L, sinh năm 1998 (là con trai ông S chủ nhà trọ) đi cùng. Do thời điểm này anh L đang uống bia cùng với bạn nên anh L bảo Th đợi. Khoảng 21 giờ cùng ngày, Th gọi điện thì anh L nói đang về và nhờ Th lấy giúp một chiếc quần dài để mặc. Th đi lấy quần cho anh L rồi đi bộ ra đầu đường thôn ĐL thì gặp anh L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đỏ, biển số 98B1 - 498.92 cũng về đến nơi. Anh L đỗ xe sườn đường, mặc quần dài rồi bảo Th điều khiển xe mô tô do anh L đang say rượu. Hai người đi đến quán ốc Mai Trang gặp anh Th và một số người ngồi uống rượu ốc.

Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày sau khi ăn uống xong, Th thanh toán tiền để đi về. Do anh L đã bị say rượu không điều khiển xe được nên Th trực tiếp điều khiển xe mô tô biển số 98B1-498.92 chở anh L ngồi sau đi về nhà trọ, anh Th điều khiển xe mô tô một mình đi về. Khi Th điều khiển xe đi đến đoạn đường đôi thuộc địa phận thôn Lực, xã Tân Mỹ, thành phố Bắc Giang, do không làm chủ được tốc độ, không chú ý quan sát nên xe mô tô đâm vào dải phân cách giữa đường làm xe mô tô bị đổ, Th và anh L văng về phía trước. Hậu quả làm anh L bị chết tại chỗ, Th bị choáng nằm bất tỉnh ở đường. Khi tỉnh dậy, Th thấy choáng váng và bị thương xước sưng mặt. Do trời tối nên Th không nhìn thấy anh L và xe mô tô đâu. Th nghĩ anh L đã đi về trước nên tự đi bộ về phòng trọ ngủ. Khoảng 07 giờ ngày hôm sau, Th được mọi người thông báo anh L bị chết do tai nạn giao thông. Th nhớ lại sự việc điều khiển xe gây ra vụ tai nạn nên đã đi ra hiện trường và xin đầu thú. Kết quả đo nồng độ cồn trong hơi thở của Th ngày 19/3/2023 là 0,595mg/L.

* Khám nghiệm hiện trƣờng: Nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là khu đất dải phân cách cứng của đường đôi từ huyện Việt Yên đi đường Võ Nguyên Giáp (dải phân cách rộng 10m) thuộc địa phận thôn Lực, xã Tân Mỹ, thành phố Bắc Giang. Bên phải đường đôi hướng từ Việt Yên đi đường Võ Nguyễn Giáp là đường nhựa rộng 15m. Trên bề mặt đất đầu dải phân cách cứng có 18 thanh bê tông hình chữ nhật kích thước (1x0,5)m.

Vị trí số (01) là vết mài vỡ bê tông. Vị trí số (02) là vết cần để chân trước xe mô tô. Vị trí số (03) là nhu mô cơ thể (não, óc) người. Vị trí số (04) là điện thoại Iphone. Vị trí số (05) là vết mài sát bê tông bám dính chất màu đen. Vị trí số (06) là đám nhu mô cơ thể, lông tóc, da người. Vị trí số (07) là xe mô tô biển số 98B1 - 438.92. Vị trí số (08) là vết máu vương vãi dạng nhỏ giọt. Vị trí số (09) là tử thi. Vị trí số (10) là chiếc dép tông. Vị trí số (11) là nhu mô não óc người. Vị trí số (12) là đám nhu mô não óc người. Vị trí số (13) là chiếc dép da nhựa.

Xác định mép đường và lề đường phía bên phải hướng từ huyện Việt Yên đi đường Võ Nguyên Giáp làm chuẩn, chọn cột điện số 1 ở lề đường đôi hướng từ huyện Việt Yên đi đường Võ Nguyên Giáp làm vật chuẩn để khám nghiệm.

- Vết mài xước vỡ bê tông ký hiệu số 01, trên đỉnh bề mặt gò bó vỉa đầu dải phân cách cứng, kích thước (0,4x0,4)m, điểm thấp nhất cách đất 0,1m. Từ tâm vết số 01 tới lề đường bên phải là 19,35m.

- 01 thanh kim loại (giá để chân trước trái xe mô tô) ký hiệu số (02) trên mặt kích thước (0,2x0,5)m. Từ tâm vết số 2 tới lề đường bên phải là 18,3m, từ tâm vết số 02 đến tâm vết số 01 là 4,2m.

- 01 đám nhu mô não - óc người ký hiệu số (03) trên mặt dải phân cách cứng kích thước (0,12x0,12)m. Từ tâm đám nhu mô số 03 đến lề đường bên phải là 21,5m, từ tâm đám nhu mô số 03 đến tâm vết số 02 là 3,8m.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, ký hiệu số (04) trên bề mặt đất dải phân cách kích thước (0,14x0,08)m. Từ tâm số 04 đến tâm số 02 là 4,6m, tới lề đường bên phải là 16,5m.

- 01 vết mài xước vỡ bê tông bám dính chất màu đen trên cạnh khối bê tông hình hộp chữ nhật ký hiệu số 06, kích thước (0,8x0,8)m, tâm số 06 đến tâm số 03 là 5,9m. Từ tâm vết số 06 đến lề đường phải là 16,5m.

- 01 xe mô tô biển số 98B1-498.92 đổ nghiêng bên phải, ký hiệu số (07) trên mặt dải phân cách cứng đầu xe hướng huyện đi Việt Yên đuôi xe hướng đi đường Võ Nguyên Giáp, từ trục trước xe mô tô số (07) đến lề đường phải là 15,55m, từ trục sau xe mô tô số (07) đến lề đường phải là 16m.

- 01 vết máu dạng nhỏ giọt trên mặt đất ký hiệu số (08) kích thước (4,5x2)m. Từ tâm vết máu số (08) đến lề đường phải là 16m, từ tâm vết máu số (08) đến trục sau xe số (07) là 0,9m.

- 01 tử thi nam giới nằm úp mặt trên mặt đất ký hiệu số (09). Đầu tử thi số (09) đến lề đường phải là 16,45m, từ gót chân phải tử thi đến lề đường phải là 15,2m, từ đầu tử thi đến vết số (03) là 10,8m, tới tâm vết số (01) là 15,7m.

- 01 chiếc dép tông nhựa trên bề mặt đường nhựa ký hiệu số (10), kích thước (0,27x0,1) m. Từ tâm vết số (10) đến lề đường nhựa bên phải là 13m, đến trục trước xe số (07) là 3,8m.

- 01 đám nhu mô não, óc người ký hiệu số (11), trên mặt đất dải phân cách kích thước (0,15x0,11)m. Từ tâm đám nhu mô số (11) đến lề đường phải là 16,1m, đến trục sau xe số (07) là 6,7m.

- 01 đám nhu mô não – óc người trên bề mặt đất dải phân cách ký hiệu số (12), kích thước (0,1x0,1)m. Từ tâm đám nhu mô số (12) đến lề đường bên phải là 21,5m. Từ tâm đám nhu mô số (12) đến tâm đám nhu mô số (11) là 5,7m.

- 01 chiếc dép da nhựa màu đen bên trái ký hiệu số (13) trên mặt dải phân cách kích thước (0,27x0,11)m. Từ tâm chiếc dép số (13) đến lề đường bên phải là 15,45m. Từ tâm chiếc dép số (13) đến tâm đám nhu mô số (11) là 8,7m.

Từ tâm vết số (01) đến cột điện số 01 (vật chuẩn) là 20,5m.

Quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra đã thu giữ xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave màu sơn đỏ biển số 98B1-498.92; 01 đôi tông nam màu đen; 01 đôi dép nhựa nam màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu đen của Vương Hồng Th.

* Khám nghiệm tử thi Lƣơng Văn L:

Chiều dài tử thi 166m, thể trạng phát triển bình thường đang giai đoạn cứng xác. Kiểm tra trong túi quần dài bên trái thấy 01 điện thoại di động, túi quần sau bên phải có một ví da màu đen trong ví có số tiền 216.000 đồng, 01 căn cước công dân và 01 giấy phép lái xe mô tô mang tên Lương Văn L.

Vùng sống mũi, trán và đỉnh phải có vết thương rách da phức tạp sâu thông vào trong hộp sọ kích thước (33x7)cm bờ mép nham nhở tụ máu, tổ chức não dập nát thoát ra khỏi hộp sọ, vỡ hoàn toàn xương hộp sọ. Vùng trán phải có đám trợt da bám dính kích thước (6x5)cm.

Vùng mặt: Hai mắt hé mở, mũi miệng máu màu đỏ, hai tai khô. Gò má trái có vết trợt da bầm tím kích thước (3,5x2)cm, gẫy sập xương sống mũi.

Vùng cổ: Chắc, kiểm tra không thấy dấu vết thương tích.

Vùng lưng trái có đám trợt da (10x6,5)cm, vùng giữa lưng có đám trợt da kích thước (12x1,5)cm. Vùng ngực, bụng, mông không thấy dấu vết thương tích.

Mu các ngón bàn tay phải có đám trợt da bám dính kích thước (8x5)cm. Mu bàn tay trái có vết bầm tím, kích thước (4x3)cm. Mặt trước 1/3 dưới cẳng chân phải có vết trợt da kích thước (2x1,5)cm. Chân trái: kiểm tra không thấy dấu vết thương tích.

Bộ phận sinh dục không thấy tổn thương. Hậu môn không thoát phân. Kiểm tra kỹ bên ngoài không phát hiện dấu vết tổn thương.

Quá trình khám nghiệm tử thi, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 ví da trong có 01 thẻ căn cước công dân; 01 giấy phép lái xe mô tô A1; 01 thẻ Ngân hàng đều mang tên Lương Văn L; số tiền 216.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone.

* Khám nghiệm xe mô tô biển số 98B1 - 498.92

- Ốp nhựa đầu xe bên trái có vết mài sát nhựa bám dính bùn đất kích thước (7x4)cm. Đầu ngoài chắn bùn trước bánh trước có vết mài sát nhựa bám dính chất màu trắng dạng vữa bê tông kích thước (9x9,2)cm.

- Cánh yếm trái vị trí thấp nhất cách đất 60cm có vết nứt vỡ nhựa bám dính sợi vải màu đen kích thước (10x0,52)cm.

- Để chân trước bên trái gẫy rời khỏi vị trí cố định. Cạnh dưới chân trống đứng bên trái có nhiều vết mài sát kim loại bám dính chất màu trắng dạng vữa bê tông kích thước (27x8)cm.

- Hợp kim loại bảo vệ xích xe bên trái tại vị trí thấp nhất cách đất 19cm, dấu vết mài sát bẹp móp kim loại hướng từ ngoài vào trong kích thước (21x5)cm.

- Để chân sau bên trái tại vị trí chân ốc phía dưới có vết nứt vỡ mài sát kim loại kích thước (3,5x3)cm.

- Mặt ngoài má lốp sau bên trái tại vị trí đối diện chân van có vết mài sát cao su bám dính chất màu trắng dạng vữa, bê tông kích thước (20x18)cm, tại vị trí tương ứng má lốp có vết bẹp móp kim loại hướng từ ngoài vào trong kích thước (13x1,5)cm.

- Đầu ngoài tay nắm phải có vết mài sát kim loại, cao su bề mặt bám dính bụi đất kích thước (9x3,5)cm. Đầu ngoài tay phanh phải có vết mài sát kim loại bám dính bùn đất kích thước (8x2,5)cm.

- Mất hơi bánh trước, lốp xe, săm xe rời khỏi vành xe. Vành xe bánh trước tại vị trí gần nhất cách chân van 16cm, ngược chiều kim đồng hồ có nhiều vết cong vênh biến dạng kim loại hướng từ ngoài vào trong, đứt gẫy nhiều nan hoa. Cong bánh trước, cong chùn kim loại hướng từ trước về sau.

- Tại vị trí càng giảm sóc bên phải có nhiều vết mài sát kim loại bám dính mô cơ thể kích thước (27x3,5)cm.

- Cánh yếm trong bên phải cong chùn kim loại từ trước về sau từ trái sang phải, bề mặt có nhiều vết mài sát kim loại bám dính chất màu trắng dạng vữa bê tông, màu vàng đất kích thước (25x4,5)cm.

- Đầu ngoài để chân trước bên phải có vết mài sát cao su kim loại bám dính chất bụi đất kích thước (5x4)cm.

- Ốp kim loại bảo vệ ống xả bên phải có nhiều vết mài sát kim loại bám dính bụi đất chất màu nâu đỏ nghi máu kích thước (61x4,5)cm.

- Yếm sau bên phải có nhiều vết mài sát da bám dính bụi đất kích thước (3x20)cm.

- Tay xách phía sau bên phải có nhiều vết mài sát da nhựa kích thước (23x4)cm. Đèn hậu dập vỡ nhựa kích thước (13x12)cm.

- Ốp nhựa phía trên đèn hậu dập vỡ nhựa kích thước (8x3)cm. Kỹ thuật an toàn phương tiện của xe không kiểm tra.

Quá trình khám phương tiện, Cơ quan điều tra đã thu giữ 02 tay nắm bằng cao su của chiếc xe mô tô biển số 98B1-498.92; 01 sợi vải thu giữ tại cánh yếm bên trái xe mô tô biển số 98B1-498.92 được cho vào phong bì thư niêm phong ký hiệu số 2.

Ngoài ra Cơ quan điều tra còn thu giữ 02 mảnh vải tại đầu gối trái và đầu gối phải của chiếc quần bò Vương Hồng Th đang mặc trên người cho vào phong bì thư niêm phong ký hiệu số 1.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định để xác định nguyên nhân chết của anh Lương Văn L. Bản kết luận giám định tử thi số 4556 ngày 30/3/2023 của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang kết luận: Nguyên nhân chết của Lương Văn L do chấn thương sọ não, vỡ xương sọ, cháy máu nội sọ, dập nát não do tai nạn giao thông.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định cơ chế hình thành dấu vết trong vụ tai nạn giao thông và trưng cầu giám định ADN trên hai tay nắm bằng cao su của xe mô tô biển số 98B1-498.92. Bản kết luận giám định số 766/KL-KTHS ngày 27/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

“1- Dấu vết mài trượt cao su, chùn cong kim loại, bám dính bột màu trắng (dạng bột đá) ở xe mô tô biển kiểm soát 98B1-489.92 gồm: Mặt lăn lốp, vành của hai bánh và mặt dưới cụm chi tiết chân phanh, để chân trước, chân chống (từ ảnh 11 đến ảnh 18 và ảnh 27, 28 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) được hình thành do va chạm với bề mặt vật tày cứng (như bê tông). Các dấu vết trên phù hợp với quá trình xe mô tô biển kiểm soát 98B1-489.92 chuyển động, va chạm với dải phân cách cứng và khối bê tông tạo nên hệ thống dấu vết ký hiệu số 1, 2, 5.

Dấu vết trượt xước nhựa, cao su, kim loại, bám dính đất ở bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98B1-489.92 gồm: tay nắm, tay phanh, để chân trước, chân phanh, ống xả, yên, tay xách và cụm đèn hậu (ảnh 19, 20, 21, 33, 34, 35, 37) bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với quá trình sau khi và chạm, xe mô tô 98B1-489.92 văng lật, đổ nghiêng phải trên nền đất trong dải phân cách cứng tạo nên.

2- Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe mô tô biển kiểm soát 98B1-489.92 với dải phân cách cứng tại điểm đầu dấu vết trượt xước vỡ bê tông, bám dính chất màu đen, ký hiệu số 1.

3- Dấu vết bám dính tổ chức mô cơ thể (não), lông tóc ở mặt trên khối bê tông hình chữ nhật trong dải phân cách cứng, ký hiệu số 6 phù hợp với quá trình va chạm, cơ thể người (như cơ thể Lương Văn L) văng đập với bê tông tạo nên.

4- Không phát hiện dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 98B1-489.92 với các phương tiện khác.

5- Không xác định được tốc độ của của xe mô tô biển số 98B1-489.92 tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.”

Bản kết luận giám định số 194/23/KLGDADN-PYQG ngày 22/03/2023 của Viện pháp y Quốc gia - Bộ Y tế kết luận: “ADN thu từ hai mẫu hai tay cầm nắm bằng cao su của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda biển số 98B1-498.92 gửi giám định trùng khớp hoàn toàn với ADN của Vương Hồng Th trên tất cả các locus STR đã so sánh.”

Ngày 24/3/2023, Cơ quan điều tra đã cho Vương Hồng Th thực nghiệm điều tra tại hiện trường vụ tai nạn giao thông. Kết quả bị cáo Th xác định đúng vị trí xảy ra tai nạn; thực hiện tư thế, động tác điều khiển xe mô tô và đâm vào dải phân cách gây ra vụ tai nạn như đã khai.

Cơ quan điều tra đã yêu cầu định giá thiệt hại của xe mô tô biển số 98B1-498.92 do bị hư hỏng. Kết luận định giá tài sản số 93/KL-HĐ ngày 17/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Bắc Giang kết luận: Tổng trị giá tài sản những bộ phận thay thế mới của xe mô tô biển số 98B1-498.92 là 1.030.000 đồng.

Bản Cáo trạng số 115/CT-VKS ngày 19 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Vương Hồng Th về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Vương Hồng Th từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 19/3/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu đen là tài sản của bị cáo Th, xét không liên quan đến hành vi phạm tội, đề nghị trả cho bị cáo; Đối với 02 mảnh vải đựng trong phong bì thư niêm phong ký hiệu số 1; 01 sợi vải đựng trong phong bì thư niêm phong ký hiệu số 2 đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Căn cứ vào điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo là người dân tộc, thuộc diện hộ nghèo đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo trình bày: Nhất trí với đại diện viện kiểm về tội danh, điều luật áp dụng. Về mức hình phạt đề nghị HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, thái độ ăn năn hối cải, nhận thức của bị cáo, căn cứ khoản 1 điều 54 của Bộ luật hình sự, xử bị cáo mức hình phạt dưới khung truy tố, cho bị cáo được hưởng hình phạt từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Bị cáo Th thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật. Bị cáo thừa nhận không có giấy phép lái xe mô tô. Tối ngày 18/3/2023, bị cáo đã uống rượu, ăn ốc cùng anh L, anh Th và một số người bạn tại thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên đến khoảng hơn 23 giờ thì về. Khi về, anh L đã say rượu, không thể đi xe được nên bảo bị cáo lái xe chở anh L. Khi đó, bị cáo cũng đã uống say, nhưng vẫn đồng ý lái xe mô tô của anh L chở anh L về. Bị cáo đi xe với tốc độ cao, sau đó đã đâm vào dải phân cách như thế nào thì bị cáo không nhớ, sáng hôm sau thấy mọi người bảo anh L bị tai nạn, bị cáo ra hiện trường và nhận biết được đã gây tai nạn giao thông nên đã đi đầu thú. Trong thời gian tạm giam, bị cáo đã nhờ bố bị cáo đứng ra bồi thường cho gia đình bị hại. Bị cáo không tranh luận, không bào chữa gì, nhất trí với tranh luận của trợ giúp viên pháp lý. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất để bị cáo cải tạo, sớm trở về với gia đình, xã hội và thực hiện trách nhiệm với gia đình anh L.

Đại diện bị hại ông Lương Văn Sơn trình bày: Bị cáo là người ngoan ngoãn, hiền lành, thuê trọ tại gia ông, được gia đình coi như con, cháu trong nhà. Sau tai nạn xảy ra, gia đình bị cáo đã đến chia sẻ, phúng viếng. Do hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn nên gia đình ông không yêu cầu phải bồi thường gì, tuy nhiên gia đình bị cáo có bồi thường số tiền 10.000.000 đồng. Nay ông không tranh luận, không yêu cầu bồi thường gì thêm. Xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị được hưởng mức án thấp nhất.

- Người liên quan ông Vương Văn Th trình bày: Ông đã được bị cáo Th nhờ bồi thường cho gia đình bị hại. Mặc dù gia đình ông S không yêu cầu bồi thường gì, nhưng ông đã lo được số tiền 10.000.000 đồng để gửi lễ phúng viếng, thắp hương. Nay ông không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền trên. Gia đình ông thuộc diện hộ nghèo và là người dân tộc sống ở vùng kinh tế khó khăn. Ông không tranh luận gì, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì. HĐXX đánh giá hành vi, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hợp pháp.

. Về sự vắng mặt của bà Lê Thị L, anh Kim Ngọc Th, Hội đồng xét xử xét thấy những người trên đã được triệu tập hợp lệ, trong quá trình điều tra đã được lấy lời khai, không tranh chấp gì về dân sự, do đó sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng trên không làm ảnh hưởng đến quá trình xét xử, Hội đồng xét xử căn cứ điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự để xét xử vụ án.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai của bị cáo Vương Hồng Th tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra về hành vi đã thực hiện. Lời khai của bị cáo còn được chứng minh bởi biên bản khám nghiệm hiện trường; Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn; biên bản khám nghiệm tử thi; Kết luận giám định số 766/KL-KTHS ngày 27/4/2023 về cơ chế hình thành dấu vết trong vụ tai nạn giao thông; bản kết luận giám định tử thi số 4556/KLGĐTT-TTPY ngày 30/3/2023 cua trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang; Bản kết luận giám định số 194/23/KLGDADN-PYQG ngày 22/3/2023 của Viện pháp y Quốc gia – Bộ y tế về xác định mẫu AND trên tay nắm cao su của xe mô tô biển số 98B1-498.92 cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Vương Hồng Th, sinh năm 2003, không có giấy phép lái xe theo quy định. Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 18/3/2023, sau khi đã uống rượu, Th điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 98B1-498.92 chở anh Lương Văn L, sinh năm 1998 ngồi phía sau đi từ thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang về nhà trọ của Th ở thôn Đông Lý, xã Tân Mỹ, thành phố Bắc Giang. Khi đi đến đoạn đường đôi thuộc địa phận thôn Lực, xã Tân Mỹ, thành phố Bắc Giang, Th điều khiển xe với tốc độ nhanh, không chú ý quan sát và không làm chủ được tốc độ nên xe mô tô đã đâm vào dải phân cách giữa đường làm Th và anh L ngã văng về phía trước. Hậu quả, Th bị thương, anh L bị đập đầu vào thanh bê tông và chết tại chỗ. Theo kết quả đo nồng độ cồn trong hơi thở của Th ngày 19/3/2023 là 0,595mg/L.

Như vậy, bị cáo có lỗi khi không chấp hành các quy định của pháp luật khi tham gia giao thông đường bộ, cụ thể: Bị cáo không có giấy phép lái xe, sau khi sử dụng rượu bia vẫn điều khiển xe mô tô tham gia giao thông đường bộ, không làm chủ được tốc độ, dẫn đến tai nạn giao thông làm chết người. Hành vi trên của bị cáo đã vi phạm khoản 8, khoản 9 Điều 8, Điều 12, Luật giao thông đường bộ; Điều 5 thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải. Tại thời điểm gây tai nạn giao thông, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung. Bản cáo trạng số 115/CT-VKS ngày 19/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, là người lao động, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải và đã bồi thường, khắc phục hậu quả nên được áp dụng điểm b, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã đầu thú và đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

Đánh giá hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, là hành vi gây thiệt hại đến tính mạng của người khác, thuộc trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng, do đó cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo. Tuy nhiên, do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thực sự ăn năn hối cải, là người dân tộc thiểu số, có hoàn cảnh khó khăn, nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt, mức hình phạt bằng mức khởi điểm của khoản 2 điều 260 Bộ luật hình sự, thấp hơn mức đề xuất của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Tại phiên tòa, trợ giúp viên pháp lý đề nghị HĐXX xem xét áp dụng khoản 1 điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo dưới khung truy tố, tuy nhiên HĐXX xét thấy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, bị truy tố theo hai điểm a và b khoản 2 của Bộ luật hình sự với khung hình phạt tù từ 3 năm đến 10 năm, nên HĐXX không chấp nhận giảm nhẹ hình phạt dưới khung như đề nghị của trợ giúp viên pháp lý.

. Về trách nhiệm dân sự: Đối với thiệt hại về tính mạng, tài sản của bị hại, bị cáo và gia đình đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với việc ông Vương Văn Thanh đã đứng ra bồi thường thiệt hại thay bị cáo, ông Thanh không yêu cầu bị cáo hoàn trả, do đó HĐXX không đặt ra xem xét.

. Về vật chứng: Căn cứ vào điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu đen của bị cáo, HĐXX trả lại cho bị cáo.

Đối với 02 (hai) mảnh vải đựng trong một phong bì thư niêm phong ký hiệu số 1 và 01(một) sợi vải đựng trong một phong bì thư niêm phong ký hiệu số 2 là vật không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

. Về án phí: Căn cứ điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, thuộc diện hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng:

Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 38; điều 47 Bộ luật hình sự.

Căn cứ khoản 2, khoản 3 điều 106; điều 135; khoản 2 điều 136; điều 292; điều 293; điều 331; điều 332; điều 333; điều 336; điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Về hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Vương Hồng Th 03 (ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 19/3/2023.

3. Về vật chứng:

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu đen.

- Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) mảnh vải đựng trong một phong bì thư niêm phong ký hiệu số 1; 01 (một) sợi vải đựng trong một phong bì thư niêm phong ký hiệu số 2.

4. Về án phí: Bị cáo Vương Hồng Th không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm.

Cỡ chữ