vanban.org

Bản án 120/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 26/10/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự;

Điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thi Thành T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 120/2023/HS-ST
Ngày: 26 - 10 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Lợi.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hồng Nguyên.

2. Bà Trần Thị Yến Nhi.

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Huỳnh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 123/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Thi Thành T – sinh năm: 1994, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp 4, xã TC, huyện TP, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ – 1954 và bà Nguyễn Thị M – 1952; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/8/2023 đến nay. (có mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Chề Minh C – sinh năm: 1994. (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 5, xã TC, huyện TP, tỉnh Đồng Nai.

+ Bà Nguyễn Thị M – sinh năm: 1952. (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 4, xã TC, huyện TP, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thi Thành T là người nghiện ma túy, loại ma túy mà T sử dụng là ma túy đá.

Vào khoảng 19 giờ 50 phút ngày 15/8/2023, Nguyễn Thi Thành T có nhu cầu sử dụng ma túy nên dùng điện thoại di động gọi cho một người đàn ông tên L (T không biết nhân thân, lai lịch) hỏi mua 01 gói ma túy đá với số tiền 900.000 đồng thì L đồng ý. L hướng dẫn T cách lấy ma túy, trả tiền và hẹn T đến khu vực Km123 Quốc lộ 20 thuộc thị trấn Tân Phú để giao dịch mua bán ma túy. T điều khiển xe mô tô biển số 93B1-064.65 đến điểm hẹn lấy ma túy và để lại tiền. Sau khi lấy ma túy, T cho ma túy vào miệng, bịt khẩu trang lại và điều khiển xe mô tô đi về nhà. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô đi chơi và khi đến khu vực khu 8, thị trấn Tân Phú, huyện Tân Phú thì bị lực lượng Công an huyện Tân Phú kiểm tra, phát hiện T đang ngậm trong miệng 01 gói nylon chứa chất nghi là ma túy đá nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tang vật thu giữ gồm:

- Thu giữ trong miệng của Nguyễn Thi Thành T 01 gói nylon kích thước 2,5cm x 3,5cm bên trong chứa chất nghi là ma túy đá.

- 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen.

- 01 xe mô tô biển số 93B1-064.65.

Tang vật là 01 gói nylon kích thước 2,5cm x 3,5cm bên trong chứa chất nghi là ma túy thu giữ của Nguyễn Thi Thành T được niêm phong và tiến hành trưng cầu giám định theo đúng quy định của pháp luật.

Tại Bản kết luận giám định số 1820/KL-KTHS ngày 22/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,1519gam, loại Methamphetamine.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Thi Thành T đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình theo đúng nội dung vụ án nêu trên.

Bản cáo trạng số 134/CT-VKSTP-ĐN ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Thi Thành T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai giữ quyền công tố luận tội và tranh luận; phân tích dấu hiệu phạm tội; đánh giá các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đặc điểm nhân thân của bị cáo. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thi Thành T và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề xuất mức án đối với bị cáo Nguyễn Thi Thành T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị:

Tịch thu, tiêu hủy 01 gói niêm phong số 1820/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Đồng Nai chứa ma túy còn lại sau giám định.

Trả lại cho bà Nguyễn Thị M 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen.

Tiếp tục giao 01 xe mô tô biển số 93B1-064.65 cho Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Tân Phú điều tra làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo có lời nói sau cùng như sau: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phú, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thi Thành T đã thành khẩn khai nhận tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định:

Vào khoảng 20 giờ ngày 25/8/2023, tại khu 8, thị trấn Tân Phú, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, khi Nguyễn Thi Thành T đang tàng trữ trái phép 01 gói ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,1519gam để sử dụng thì bị Lực lượng Công an huyện Tân Phú phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật.

Hành vi do bị cáo Nguyễn Thi Thành T đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, nó trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, trực tiếp là hoạt động tàng trữ các chất ma túy. Bị cáo thực hiện hành vi trên với lỗi cố ý. Bản thân bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Do đó bị cáo Nguyễn Thi Thành T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Trong tình hình hiện nay, ma túy đang trở thành vấn nạn của xã hội. Tình trạng mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy đang diễn ra rất phức tạp, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, an toàn xã hội, gây tác hại rất lớn đến sức khỏe nòi giống, nhân cách con người, gây thiệt hại về kinh tế của gia đình cũng như xã hội. Ma túy là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng của các nhóm tội phạm khác.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

. Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt.

. Về hình phạt:

. Về hình phạt chính: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.

. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 gói niêm phong số 1820/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Đồng Nai chứa ma túy còn lại sau giám định. Xét vật chứng trên là công cụ dùng vào việc phạm tội, vật cấm tàng trữ. Căn cứ vào quy định tại các Điều 46 và Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen: Xét đây là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị M (mẹ đẻ của bị cáo T). Việc bị cáo sử dụng điện thoại di động trên để liên lạc mua ma túy thì bà M không biết và không đồng ý nên Hội đồng xét xử quyết định trao trả lại cho bà Nguyễn Thị M.

Đối với 01 xe mô tô biển số 93B1-064.65: Hiện chưa xác minh làm rõ được nguồn gốc. Do đó, cần tiếp tục giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú quản lý, bảo quản để điều tra làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.

. Về các vấn đề khác: Đối với đối tượng tên L mà bị cáo Tỷ khai đã mua ma túy. Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

. Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bị cáo Nguyễn Thi Thành T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

. Xét quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự;

- Điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

- Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thi Thành T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thi Thành T 01 (một) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 15 tháng 8 năm 2023.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì số 1820/KL-KTHS bên trong chứa ma túy sau giám định. Trả lại cho bà Nguyễn Thị M 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen. (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02/10/2023).

Giao 01 xe mô tô biển số 93B1-064.65 cho Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai để điều tra làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật. (Theo biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 15/8/2023).

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thi Thành T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thi Thành T có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ