vanban.org

Bản án 120/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 16/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:

Xử phạt bị cáo 16 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và 06 tháng tù về tội Đánh bạc. Tổng hợp hình phạt cho cả 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành chung là 22 tháng tù nhưng được khấu trừ 01 tháng 10 ngày tạm giam, bị cáo còn phải thi hành T1 là 20 tháng 20 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn Hậu - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ
T2 SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 120/2022/HS - ST
Ngày 16 - 6 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, T2 SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lò Văn Thôn.

2. Bà Lò Thị Thành.

- Thư ký phiên toà:

Bà Lý Thị Thùy Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà:

Ông Dương Văn Nam - Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 118/2022/HSST ngày 05 tháng 5 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2022/QĐXXST - HS ngày 03 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Quàng Văn H - Sinh năm 1990; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản C, xã M, huyện S, T2 Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông Quàng Văn T (đã chết) và bà Quàng Thị X; Có vợ là Lò Thị H1 và 02 con (con lớn sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2017); Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 27/5/2021 đến ngày 07/7/2021 được thay thế bằng biện pháp Bảo lĩnh đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 10 phút, ngày 22/5/2021 tổ công tác Công an huyện S phối hợp với Công an xã M, Sông Mã và Đồn biên phòng D làm nhiệm vụ tại bản C, M, S phát hiện tại lán nương của Lò Văn L có một số đối tượng đang tụ tập đánh bạc và sử dụng trại phép chất ma túy. Khi tổ công tác vào lán kiểm tra phát hiện có Lò Văn L, Vì Văn T1, Lò Văn H1 và 01 đối tượng chạy thoát. Quá trình làm việc L đã tự lấy từ trong túi quần bên trái đang mặc ra giao nộp 02 gói nilon màu trắng, bên trong gói thứ nhất có chứa 03 viên nén hình tròn màu H1, bên trong gói thứ hai có chứa 05 viên nén hình tròn màu H1 (L khai nhận là H1 phiến). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng. Ngoài ra còn thu giữ của L số tiền 1.000.000đ trong túi quần phía sau bên phải; thu giữ trên chiếu trải trong lán tổng số tiền 4.250.000đ, 01 bộ bài tú lơ khơ, 01 tẩu tự chế bằng chai nhựa, 01 chiếc bật lửa gas màu đỏ, 01 chiếu nhựa màu xanh đen đã qua sử dụng.

Sau khi bị bắt Lò Văn L, Vì Văn T1 khai nhận số ma túy bị thu giữ do Lò Văn L, Vì Văn T1 và bị cáo Quàng Văn H trong lúc cùng ngồi đánh bạc đã cùng nhau góp tiền, sau đó nhờ Lò Văn T2 (sinh năm 1985, trú tại bản C, xã M, huyện S) đi mua được của Lèo Văn M2 (sinh năm 1977, trú tại bản K2, xã M, huyện S), người bỏ chạy khi tổ công tác đến kiểm tra là Quàng Văn H.

Ngày 27/5/2021 Quàng Văn H đã đến Công an huyện Sông Mã đầu thú về hành vi phạm tội. Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã đã triệu tập Lò Văn T2 và Lèo Văn M2 đến làm việc, T2 và M2 đã thừa nhận toàn bộ hành vi vi phạm nên Cơ quan CSĐT Công an huyện S đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lò Văn T2 và Lèo Văn M2.

Ngày 25/5/2021 tại Công an huyện S đã tiến hành mở niêm phong, cân tịnh và trích mẫu vật nghi là ma túy gửi giám định, kết quả:

- 03 viên nén màu H1 trong túi nilon màu trắng thứ nhất thu giữ của L có tổng khối lượng là 0,30 gam. Đã trích 01 viên có khối lượng là 0,10 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu L1, vật chứng còn lại là 02 viên có tổng khối lượng là 0,20 gam ký hiệu P1.

- 05 viên nén màu H1 trong túi nilon màu trắng thứ hai thu giữ của L có tổng khối lượng là 0,51 gam. Đã trích 01 viên có khối lượng là 0,10 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu L2, vật chứng còn lại là 04 viên có tổng khối lượng là 0,41 gam ký hiệu P2.

Tại bản kết luận giám định số 1038 ngày 27/5/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an T2 Sơn La, kết luận:

“- Mẫu gửi giám định ký hiệu L1, L2 đều là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định L1 = 0,10 gam; L2 = 0,10 gam.

- Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,81 gam; Loại Methamphetamine”.

Tại bản kết luận giám định số 1041 ngày 27/5/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an T2 Sơn La, kết luận: “Số tiền 5.250.000đ thu giữ trong vụ án Lò Văn L gửi giám định là tiền thật”.

Quá trình điều tra bị cáo H khai nhận:

Khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 21/5/2021 thì H cùng Lò Văn T2, Vì Văn T1 đến lán nương của Lò Văn L chơi. Khoảng 10 phút sau thì L rủ H, T1 đánh bạc bằng hình thức chơi Liêng thắng thua bằng tiền mặt, T1 và H nhất trí. Sau đó L lấy 01 bộ bài tú lơ khơ có sẵn trong lán nương rồi cả ba ngồi thành hình tam giác trên chiếu trải sẵn trong lán nương để đánh bạc, còn T2 do không có tiền nên chỉ ngồi xem.

Hình thức chơi Liêng được quy định như sau: Bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài chia cho mỗi người 03 quân bài, khi bắt đầu chơi mỗi người góp 50.000đ vào giữa chiếu bạc gọi là góp “gà”, sau đó từng người tự cộng điểm ba quân bài của mình lại. Hình thức cộng điểm cao nhất là “Sáp” nghĩa là có ba quân bài giống nhau nếu là ba quân Át là to nhất, nhỏ nhất là hai; T1 đến Liêng (là những số liền kề nhau) nhưng chất rô là lớn nhất, rồi đến chất cơ, tép, bích; T1 đến là “Ảnh” (là 03 quân hình đầu người). Nếu như không có những chất như trên thì cộng điểm của ba quân bài lại với nhau và 9 điểm là cao nhất, nếu có số điểm bằng nhau thì tính chất rô là cao nhất, đến cơ, tép, bích. Người cầm cái được tố đầu tiên, T1 đến lần lượt từ phải qua trái, tố tối thiểu 50.000đ và tối đa là 200.000đ. Nếu ai không theo thì úp bài xuống được xem là thua ván đó, còn nếu ai thắng thì sẽ được thu hết số tiền dưới chiếu.

Đến 02 giờ ngày 22/5/2021, trong lúc đang đánh bạc thì T1 rủ L và H góp tiền mua ma túy để sử dụng thì L, H đồng ý. Sau đó H, T1 mỗi người góp số tiền 200.000đ đưa cho L, còn L do đang đánh bạc hết tiền nên L hẹn sẽ trả sau. Do đang muốn đánh bạc T1 nên L đưa số tiền 400.000đ cho T2 và nhờ T2 đi mua ma túy hộ thì T2 đồng ý. T2 cầm lấy tiền rồi một mình đi bộ đến khu vực bờ suối thuộc bản C, xã M, huyện S thì gặp Lèo Văn M2 đang đi đánh bắt cá. T2 hỏi mua được của M2 02 gói nilon màu trắng bên trong mỗi túi đều chứa 05 viên H1 phiến (tổng là 10 viên) với giá 400.000đ. Sau đó T2 đi bộ về lán nương và đưa lại cho L và nói lại với mọi người đã mua được 10 viên H1 phiến, L nhận lấy rồi cất vào trong túi quần đang mặc rồi T1 tục ngồi đánh bạc, còn T2 ngồi xem được một lúc thì đi về nhà ngủ. Đến khoảng 15 giờ ngày 22/5/2021, L, T1 và H đang ngồi đánh bạc thì có Lò Văn H1 đến chơi và tham gia đánh bạc. Cả bốn người ngồi thành hình tròn theo vị trí từ phải qua trái lần lượt là L, H, H1 và T1.

Khi bắt đầu chơi L có 2.700.000đ và đã trả nợ cho H số tiền 1.000.000đ, còn 1.700.000đ; H mang theo số tiền 2.000.000đ được L trả nợ cho 1.000.000đ thành 3.000.000đ, T1 có 900.000đ, H1 đến sau có 500.000đ để cùng tham gia đánh bạc. Tổng số tiền các bị can sử dụng vào việc đánh bạc là 6.100.000đ.

Trong quá trình đánh bạc, L có cất số tiền lời được là 1.000.000đ vào trong túi quần và H có cất số tiền lời được là 450.000đ vào trong túi quần. Cả 4 người đánh bạc đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì mọi người tạm nghỉ, sau đó L bỏ ra 02 viên H1 phiến trong 01 gói nilon màu trắng để cùng T1, H và H1 sử dụng bằng hình thức đốt, hít qua tẩu tự chế vào cơ thể, còn lại 03 viên H1 phiến L gói lại và cất giấu vào túi quần bên trái đang mặc. Khi cả 04 người vừa sử dụng ma túy xong, thì bị tổ công tác Công an làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Trong quá trình điều tra Quàng Văn H có dấu hiệu bị bệnh tâm thần nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã đã quyết định trưng cầu giám định gửi Viện pháp y tâm thần Trung ương để giám định tâm thần đối với H. Ngày 12/8/2021 Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã quyết định tách vụ án hình sự số 02/ĐCSKT-MT về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy và Đánh bạc của Quàng Văn H ra; Các đối tượng Lò Văn L, Vì Văn T1, Lò Văn T2, Lèo Văn M2 và Lò Văn H1 đã xét xử xong tại bản án số 30/2021/HS-ST ngày 13/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Sông Mã.

Tại bản Kết luận giám định số 416/KLGĐ ngày 15/12/2021 của Viện pháp y tâm thần Trung ương kết luận đối với Quàng Văn H:

“- Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội bị can Quàng Văn H có hội chứng nghiện chất gây ảo giác. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thức 10 năm 1992 bệnh có mã số F16.2. Bị can đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi;

- Tại thời điểm giám định bị can Quàng Văn H bị bệnh động kinh cục bộ toàn thể hóa thứ phát/hội chứng nghiện chất gây ảo giác. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số G40.2/F16.2. Bị can đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

- Căn cứ điều 5 Nghị định 64/2011/NĐCP ngày 28/7/2011 của Chính phủ quy định về việc thi hành Biện pháp bắt buộc chữa bệnh và điều 49 Bộ luật hình sự năm 2015 về “Bắt buộc chữa bệnh”: Bị can Quàng Văn H không thuộc diện cần áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh”.

Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 50/CT-VKSSM ngày 04 tháng 5 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử bị cáo Quàng Văn H về các tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và tội Đánh bạc, theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn H phạm các tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội Đánh bạc.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 16 - 20 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, từ 06 – 09 tháng tù về tội Đánh bạc. Tổng hợp hình phạt cho cả 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành chung là từ 22 - 29 tháng tù, được khấu trừ 01 tháng 10 ngày tạm giam.

Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo nhập trại thụ hình.Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Truy thu để nộp Ngân sách Nhà nước số tiền là 450.000đ.

Vật chứng đã được xử lý xong tại bản án số 30/2021/HS-ST ngày 13/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Sông Mã.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận gì và khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng M2 bằng các căn cứ sau

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 16 giờ 30 phút, ngày 22/5/2021 đối với Lò Văn L, Vì Văn T1 và Lò Văn H1 cùng vật chứng bị thu giữ là 08 viên nén màu H1, tổng số tiền 5.250.000đ, một bộ tú lơ khơ, 01 chiếc chiếu, tẩu tự chế và bật lửa ga;

- Kết luận giám định số 1038 ngày 27/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an T2 Sơn La, kết luận 08 viên nén màu H1 thu giữ là ma túy loại Methamphetamine: “…Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,81 gam, loại Methamphetamine”.

- Kết luận giám định số 1041 ngày ngày 27/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an T2 Sơn La, kết luận số tiền thu giữ 5.250.000đ là tiền thật.

- Lời khai nhận tội của bị cáo về việc tối ngày 21 và rạng sáng 22/5/2021 đã đến lán nương của Lò Văn L, sau đó đã cùng L, T1, H1 đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng”, được thua bằng tiền với tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 6.100.000đ, trong quá trình chơi L, T1 và H có rủ nhau góp tiền và nhờ T2 đi mua H1 phiến của Lèo Văn M2 về để sử dụng tại lán nương của L. Sau đó thì bị phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Kết luận giám định số 416/KLGĐ ngày 15/12/2021 của Viện pháp y tâm thần Trung ương kết luận đối với Quàng Văn H xác định: “... Bị can đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.... Bị can Quàng Văn H không thuộc diện cần áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh”.

- Lời khai nhận tội của bị cáo về thời gian địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với các lời khai của các đồng phạm Lò Văn L, Vì Văn T1, Lò Văn T2, Lèo Văn M2 và Lò Văn H1. Bị cáo không có thay đổi, bổ sung gì về lời khai làm thay đổi nội dung vụ án và khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện S truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tội Đánh bạc, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng quy định của pháp luật.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 21/5/2021 bị cáo H đã cùng L, T1, H1 cùng nhau đánh bạc dưới hình thức đánh Liêng, thắng thua bằng tiền tại lán nương của L với tổng số tiền đánh bạc là 6.100.000đ. Trong quá trình đánh bạc bị cáo H có cùng T1 và L thống nhất với nhau góp tổng số tiền là 400.000đ rồi nhờ T2 đi mua hộ ma túy về mục đích để sử dụng. Sau khi T2 mua được 10 viên H1 phiến từ M2 với giá 400.000đ đã đem ma túy về đưa cho L trực T1 cất giữ, sau đó L bỏ ma túy ra để bản thân và cho phép bị cáo H, T1 và H1 cùng nhau sử dụng hết 02 viên ngay tại lán nương của gia đình do mình đang quản lý, còn 08 viên có tổng khối lượng 0,81 gam chưa sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo Quàng Văn H thực hiện đã phạm các tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt từ “01 năm đến 05 năm tù”; tội Đánh bạc tội phạm và hình phạt được quy định tại quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt từ “phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”;

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Trong vụ án này bị cáo H có sử dụng 3.000.000đ để tham gia việc đánh bạc và góp 200.000đ để đưa cho Lò Văn T2 đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng với L và T1 nên giữ vai trò đồng phạm với Lò Văn L, Lò Văn H1 và Vì Văn T1.

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng và ít nghiêm trọng; Bị cáo nhận thức được hành vi do mình thực hiện là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.

Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tại phiên toà và tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra (CQCSĐT) để đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Vì vậy, cần có một mức án tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, vai trò và khối lượng ma túy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, số tiền bị cáo sử dụng để đánh bạc để đưa ra một mức án phù hợp nhất, nhằm giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và cũng đảm bảo biện pháp răn đe, phòng ngừa chung, góp phần thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý, tệ nạn xã hội tại địa phương.

Về hình phạt bổ sung: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác M2, làm rõ gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bản thân bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về các vấn đề khác có liên quan trong vụ án và vật chứng vụ án:

Các đối tượng Lò Văn L, Vì Văn T1, Lò Văn T2, Lèo Văn M2 và Lò Văn H1 là đồng phạm khác trong vụ án với Quàng Văn H cùng vật chứng đã được xét xử và xử lý xong tại bản án số 30/2021/HS-ST ngày 13/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Sông Mã nên tại vụ án này không đặt vấn đề xem xét.

Đối với số tiền 450.000đ do bị cáo đánh bạc mà có nhưng đã tiêu sài cá nhân hết vì vậy cần truy thu để sung Ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 55 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Quàng Văn H phạm các tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội Đánh bạc.

Xử phạt bị cáo 16 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và 06 tháng tù về tội Đánh bạc.

Tổng hợp hình phạt cho cả 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành chung là 22 tháng tù nhưng được khấu trừ 01 tháng 10 ngày tạm giam, bị cáo còn phải thi hành T1 là 20 tháng 20 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo nhập trại thụ hình.

Truy thu để nộp Ngân sách Nhà nước số tiền là 450.000đ.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 16/6/2022)./.

Cỡ chữ