vanban.org

Bản án 120/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 28/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 120/2022/HS - ST
Ngày: 28/11/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Chung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Đô

Ông Nguyễn Ngọc Trứ

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Hạnh- Kiểm sát viên.

Ngày 28/11/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 123/2022/TLST-HS ngày 15/11/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2022/QĐXXST-HS ngày 16/11/2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T; Sinh năm 1970;

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;

Nơi cư trú: thôn Xuân Biều, xã Xuân Cẩm, Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

Nghề nghiệp: Tự do;

Trình độ văn hóa: 09/12;

Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không;

Con ông: Nguyễn Văn Sinh, đã chết;

Con bà: Hà Thị Nhàn, đã chết;

Vợ: Nguyễn Thị Kim Hà, sinh năm 1983;

Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2013;

Gia đình có 10 anh chị em, bị cáo là con thứ tám;

Tiền án: Không;

Tiền sự: Quyết định số 03/QĐ-TA ngày 14/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 24 tháng (chấp hành xong ngày 27/5/2022).

Nhân thân:

- Bản án số 25/2012/HSST ngày 12/9/2012 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình xử phạt 03 tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/11/2012, án phí ngày 18/10/2012).

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 52/QĐ-XPHC ngày 16/4/2019 của Công an huyện Hiệp Hòa phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc (đã nộp phạt ngày 06/5/2019).

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2022 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 30 phút ngày 03/10/2022, tại thôn Xuân Biều, xã Xuân Cẩm, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang; đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Hiệp Hòa bắt quả tang Nguyễn Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: Thu giữ tại túi quần bên trái Tám đang mặc 01 vỏ bao thuốc lá Craven, bên trong có: 01 túi nilon màu xanh, một đầu có rãnh khóa màu đỏ bên trong có 09 đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu (trong đó: 06 đoạn màu xanh, 01 đoạn màu vàng, 01 đoạn màu hồng, 01 đoạn màu tím) bên trong đều chứa 01 viên nén màu hồng đỏ; 24 đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu (trong đó: 04 đoạn màu hồng, 06 đoạn màu tím, 07 đoạn màu vàng, 02 đoạn màu cam, 05 màu xanh) bên trong đều chứa tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, chứa tinh thể màu trắng; 01 vỏ gói mì tôm Kokomi, bên trong có 02 gói giấy màu trắng có chữ màu đen bên trong đều chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma túy. Công an huyện Hiệp Hòa đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong toàn bộ vật chứng thu giữ trong phong bì thư có kí hiệu “QT”. Ngoài ra, Công an Hiệp Hòa còn thu giữ của Tám 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone và số tiền 400.000 đồng (BL 16-17).

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa ra Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn T. Kết quả: không thu giữ đồ vật, tài liệu gì (BL 28-29).

Ngày 03/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa ra Quyết định trưng cầu giám định số 216/QĐ gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang giám định số vật chứng nghi là ma túy thu giữ của Tám khi bắt quả tang.

Tại Kết luận giám định số 1790/KL-KTHS ngày 06/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, kết luậnTrong 01 phong bì có ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định: Trong 01 (một) túi nilon màu xanh một đầu có rãnh khóa bằng nhựa viền màu đỏ: Chất tinh thể màu trắng đựng trong 24 đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu (trong đó có: 04 đoạn màu hồng, 06 đoạn màu tím, 07 đoạn màu vàng, 02 đoạn màu cam và 05 đoạn màu xanh) và chất tinh thể đựng trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ đều là ma túy, có tổng khối lượng 3,383 gam, loại Methamphetamine; 09 viên né màu hồng đỏ đựng trong 09 đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu (trong đó có: 06 đoạn màu xanh, 01 đoạn màu tím, 01 đoạn màu vàng và 01 đoạn màu hồng) đều là ma túy, có tổng khối lượng 0,906 gam, loại Methamphetamine; Chất cục bột màu trắng đựng trong 02 gói giấy màu trắng, có chữ màu đen, được đựng trong 01 vỏ gói mì tôm Kokomi đều là ma túy, có tổng khối lượng 0,130 gam, loại Heroine (BL 21-22).

Quá trình điều tra xác định hành vi phạm tội và nguồn gốc số ma túy của bị can như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 30/9/2022, Nguyễn Văn T thuê xe ôm một mình đi từ nhà sang khu vực ngã ba phố Nỉ thuộc xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội với mục đích tìm mua ma túy về để sử dụng. Tại đây, Tám nhờ một người đàn ông không quen biết làm nghề xe ôm đi mua ma túy hộ và đưa cho người đó số tiền 2.500.000 đồng rồi đứng ở đó đợi. Khoảng 20 phút sau, người xe ôm quay lại để ma túy ở rìa đường, cách chỗ Tám đứng khoảng 20m và chỉ Tám ra lấy. Tám đi ra vị trí người xe ôm để ma túy thì thấy có một gói giấy màu trắng, Tám cầm lên cất vào túi quần rồi quay ra thuê xe ôm đi về nhà. Khi về đến nhà, Tám bỏ ra kiểm tra thì thấy bên trong gói giấy có một túi nilon màu xanh bên trong chứa 01 túi nilon ma túy đá, 01 túi nilon chứa 11 viên ma túy tổng hợp dạng hồng phiến và 03 gói giấy chứa ma túy heroine. Tám lấy túi nilon chứa 11 viên ma túy tổng hợp dạng hồng phiến chia vào 11 đoạn ống nhựa (mỗi đoạn 01 viên) rồi hàn kín hai đầu, lấy túi nilon chứa ma túy đá chia vào 26 đoạn ống nhựa rồi hàn kín hai đầu, còn lại một ít ma túy đá Tám để lại túi nilon. Từ ngày 30/9/2022 đến ngày 03/10/2022, Tám đã sử dụng 01 gói ma túy heroine, 02 đoạn ống nhựa chứa ma túy đá, 02 đoạn ống nhựa chứa ma túy tổng hợp. Số ma túy còn lại Tám đựng trong vỏ bao thuốc lá Craven và cất giấu trong người. Đến khoảng 13 giờ 15 phút ngày 03/10/2022, khi Tám đang ở nhà thì bị Công an huyện Hiệp Hòa phát hiện, kiểm tra và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (BL 76-87).

Với nội dung trên Tại bản cáo trạng số 124/CT-VKS-HH ngày 15/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, sau phần xét hỏi tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo, phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

1, Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2, Về hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Nguyễn Văn T từ 48 tháng tù đến 54 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 03/10/2022. Miễn hình phạt bổ xung cho bị cáo.

3, Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì ký hiệu “QT” bên trong có chứa chất ma túy đã niêm phong.

Trả lại cho bị cáo 01 phong bì có ký hiệu “ĐT” bên trong là 01 chiếc điện thoại di động đã được niêm phong và số tiền 400.000 đồng.

4, Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Hiệp Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về sự vắng mặt của người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do, tuy nhiên đã có đầy đủ lời khai của họ trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

. Tại phiên toà hôm nay bị cáo Nguyễn Văn T có mặt tại phiên tòa cũng đã hoàn toàn khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với hành vi phạm tội, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng, tang vật thu giữ và các tài liệu khác do Cơ quan điều tra thu thập, đã có đủ cơ sở để kết luận:

Ngày 03/10/2022, tại nhà ở của Nguyễn Văn T, sinh năm 1970 ở thôn Xuân Biều, xã Xuân Cẩm, huyện Hiệp Hòa; Công an huyện Hiệp Hòa bắt quả tang Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 4,289 gam ma túy Methamphetamine và 0,130 gam ma túy Heroine. Tám khai tàng trữ số ma túy trên để sử dụng.

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội. Ma tuý là hiểm hoạ cho đời sống cộng đồng, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, là nguy cơ lây truyền các căn bệnh xã hội như HIV, AIDS… Pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển… trái phép chất ma tuý. Đảng và Nhà nước ta đang quyết tâm loại trừ tệ nạn này.

Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền lợi chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, nhận thức rất rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, song bị cáo vẫn cố tình thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, do đó cần phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng của bị cáo thì thấy:

Năm 2020 Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 24 tháng (chấp hành xong ngày 27/5/2022).

Năm 2012 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình xử phạt 03 tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/11/2012, án phí ngày 18/10/2012).

Năm 2019 Công an huyện Hiệp Hòa phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc (đã nộp phạt ngày 06/5/2019).

. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần khi lượng hình.

. Đối với người đàn ông mua hộ ma túy cho Nguyễn Văn T và người xe ôm chở Tám đi mua ma túy, Tám khai không biết tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xác minh làm rõ và xử lý.

. Về vật chứng của vụ án gồm:

Đối với 01 (một) phong bì ký hiệu “QT” bên trong có chứa chất ma túy đã niêm phong, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone; số tiền 400.000 đồng là của Tám không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo.

. Về hình phạt bổ xung và án phí: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp. Gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo năm 2022. Do vậy cần miễn hình phạt bổ xung và án phí cho bị cáo.

. Cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Về hình phạt:

Xử phạt: Nguyễn Văn T: 04 (Bốn) năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 03/10/2022. Miễn hình phạt bổ xung cho bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì ký hiệu “QT” bên trong có chứa chất ma túy đã niêm phong.

Trả lại cho bị cáo 01 phong bì có ký hiệu “ĐT” bên trong là 01 chiếc điện thoại di động đã được niêm phong và số tiền 400.000 đồng.

3. Về án phí: Áp dụng điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án Dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 và 9a Luật Thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ