- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Kim Đ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 120/2022/HS-PT Ngày: 07/12/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Hiệu
Các Thẩm phán: Ông Bùi Đăng Huy, ông Phạm Anh Tuyết
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Mai Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 145/2022/TLPT-HS ngày 01 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Văn Kh do có kháng cáo của đại diện bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 68/2022/HS-ST ngày 20/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
- Bị cáo bị Kháng cáo: Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1993 tại Hải Dương; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn Đ, xã C, huyện CG, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn K và bà Vũ Thị Thúy V; bị cáo không có vợ và có 01 con.
Tiền sự: Không
Tiền án:
+ Tại bản án số 17/2012/HSST ngày 26/6/2012, Tòa án nhân dân huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 7 tháng tù về tội"Gây rối trật tự công cộng".
+ Tại bản án số 36/2014/HSST ngày 27/8/2014, Tòa án nhân dân huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 27 tháng tù về tội"Gây rối trật tự công cộng".
+ Tại bản án số 49/2014/HSST ngày 15/9/2014, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xử phạt 5 năm 6 tháng tù về tội"Cố ý gây thương tích".
Nhân thân:
+ Ngày 16/7/2011, Công an xã Cẩm Hưng, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi đánh nhau, gây rối trật tự.
+ Ngày 29/8/2011, Công an xã Ngọc Liên, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi đánh nhau, gây rối trật tự.
+ Ngày 10/10/2011, Chủ tịch UBND xã Cẩm Hưng áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường trong thời hạn 6 tháng.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 06/3/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1988 (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
+ Ông Nguyễn Kim Đ, sinh năm 1964
+ Bà Kim Thị Ng, sinh năm 1969
+ Chị Trần Thị B, sinh năm 1992
+ Cháu Nguyễn Minh Kh1, sinh ngày 17/5/2017
+ Cháu Nguyễn Danh Ph, sinh ngày 20/01/2019
Người đại diện theo pháp luật của cháu Kh1, cháu Ph: Chị Trần Thị B.
Người đại diện theo ủy quyền của chị Bích: Bà Kim Thị Ng (theo Giấy ủy quyền ngày 26/8/2022); có mặt.
Đều trú tại: Thôn ĐH, xã C, huyện CG, tỉnh Hải Dương
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Kim Đ, sinh năm 1964
Địa chỉ: Thôn ĐH, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Kh không có giấy phép lái xe ôtô. Tối ngày 29/8/2021, Kh cùng với anh Vũ Văn Th ở cùng thôn, anh Nguyễn Văn M ở thôn BP, xã Ng, huyện CG và anh Nguyễn Bá T ở thôn ĐH, xã C, huyện CG ăn cơm tại nhà anh Vũ Văn D ở thôn Đ, xã C, huyện CG. Khi đang ăn cơm thì anh Nguyễn Đức H ở thôn N, thị trấn LC, huyện CG điều khiển xe ôtô nhãn hiệu Ford, loại xe tải Pickup cabin kép, màu sơn đỏ vàng BKS 34C-245.43 đến nhà anh D và vào ăn cơm cùng. Sau khi ăn cơm xong, anh H chở Kh, anh M, anh T đi uống nước tại thôn ĐG, xã LĐ, huyện CG, còn anh D và anh Th đi xe máy đi chơi.
Khoảng 22 giờ cùng ngày, Kh hỏi mượn xe ôtô BKS 34C-245.43 để về đón bạn, anh H đồng ý đưa chìa khóa xe cho Kh. Khi Kh đi ra xe ôtô thì gặp anh D và anh Th. Kh rủ anh Th đi về cùng thì anh Th lên ngồi tại ghế phụ. Kh điều khiển xe ôtô chở anh Th đi trên quốc lộ 38, hướng Hải Dương - Bắc Ninh để về nhà. Đến khoảng 22 giờ 10 phút cùng ngày, khi đi đến Km 24+200, thuộc địa phận thôn ĐH, xã C, huyện CG, Kh điều khiển xe với tốc độ cao và không chú ý quan sát. Khi phát hiện thấy xe ba bánh tự chế chở cây ngô do anh Nguyễn Văn Tr điều khiển đi phía trước cùng chiều ở làn đường dành cho xe ôtô và xe môtô, do khoảng cách gần và xe đang đi với tốc độ cao nên phần đầu xe ôtô do Kh điều khiển đã va chạm vào phía sau xe tự chế, đẩy chiếc xe này lên phía trước và đổ ở rìa đường bê tông bên phải, anh Nguyễn Văn Tr bị rơi xuống mương bê tông. Hậu quả: anh Tr bị thương và tử vong trên đường đi cấp cứu; xe ôtô BKS 34C-245.43 và xe ba bánh tự chế bị hư hỏng. Ngày 30/8/2021, Kh đến Công an huyện CG trình diện, khai nhận hành vi thực hiện và kiểm tra kết quả nồng độ cồn trong máu bằng 0.
Tại Kết luận giám định pháp y về tử thi số 553/GĐPY ngày 06/9/2021, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Anh Nguyễn Văn Tr chết do chấn thương sọ não (vỡ xương vòm sọ). Tổn thương chính dẫn đến tử vong là vỡ xương trán phải tương ứng vết thương rách da phía ngoài, tổn thương này do vật tày gây nên là phù hợp.
Kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐGĐ-TTHS ngày 16/3/2022, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện CG kết luận: Phần thiệt hại của xe ôtô nhãn hiệu Ford, loại xe tải Pickup cabin kép, màu sơn đỏ vàng, BKS 34C- 245.43 là 48.103.000đồng. Phần thiệt hại của xe ba bánh tự chế không có biển kiểm soát, màu sơn xanh đã cũ là 2.550.000đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 68/2022/HS-ST ngày 20/9/2022, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng đã căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 591, Điều 593, Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Kh 37 tháng tù về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"; về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo có trách nhiệm cấp dưỡng cho 02 con của anh Tr 500.000đồng/tháng/cháu kể từ tháng 8/2021 đến khi các cháu đủ 18 tuổi; về vật chứng: Tịch thu cho phát mại chiếc xe ba bánh tự chế của anh Tr. Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền Kháng cáo theo quy định.
Ngày 28/9/2022, người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Kim Đ kháng cáo với nội dung: Bị cáo không thành khẩn, khi bị cáo điều khiển xe, ngoài bị cáo và anh Th còn có những người khác trên xe nên có đồng phạm khác; phiên tòa sơ thẩm không có mặt người làm chứng không đảm bảo khách quan; bản án sơ thẩm tuyên hình phạt đối với bị cáo là thấp; về trách nhiệm dân sự và xử lý chiếc xe ba bánh tự chế của anh Tr chưa thỏa đáng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người kháng cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và cho rằng anh Tr chết không phải do tai nạn giao thông mà là do bị cáo và nhóm người đi cùng trên xe ô tô cố tình dùng ô tô đâm tử vong; chứng cứ để chứng minh chính là đoạn ghi âm lời nói của anh Th nói với ông trên xe ô tô bị cáo Kh điều khiển hôm đó có 5 đến 6 người nhưng ông không xuất trình chứng cứ tại phiên tòa. Đề nghị Tòa án xem xét hành vi của bị cáo Kh có phải là hành vi giết người hay không và tăng mức hình phạt đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự ông Đ và bà Ng thừa nhận đã nhận số tiền 200.000.000 đồng của gia đình bị cáo Kh. Ngoài số tiền trên, ông bà đề nghị Tòa án buộc bị cáo bồi thường khoản tiền cấp dưỡng nuôi hai con của anh Kh với mức cao hơn mức Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên. Về chiếc xe ba bánh tự chế của anh Tr đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Kh không đồng ý kháng cáo của đại diện bị hại về việc tăng hình phạt. Đối với khoản tiền cấp dưỡng nuôi hai con của anh Tr, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Ngoài số tiền đã bồi thường, bị cáo tự nguyện bồi thường cho đại diện bị hại khoản tiền 2.550.000 đồng thiệt hại chiếc xe ba bánh tự chế của anh Tr.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của đại diện bị hại, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Kháng cáo của đại diện bị hại trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm, lời khai của người làm chứng, phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản khám nghiệm phương tiện, Kết luận giám định pháp y về tử thi, Kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn Kh không có giấy phép lái xe ôtô theo quy định. Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 29/8/2021, Kh điều khiển xe ôtô BKS 34C- 245.43 trên quốc lộ 38 theo hướng Hải Dương - Bắc Ninh. Khi đi đến Km 24+200 thuộc địa phận thôn ĐH, xã C, huyện CG, tỉnh Hải Dương do điều khiển xe không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn với xe đi liền trước nên phần đầu xe ôtô do Kh điều khiển đã va chạm vào phía sau xe ba bánh tự chế chở cây ngô do anh Nguyễn Văn Tr điều khiển đi phía trước cùng chiều. Hậu quả, anh Tr tử vong, phần thiệt hại của xe ba bánh tự chế là 2.550.000 đồng.
Ông Đ kháng cáo cho rằng đây không phải là tai nạn giao thông mà là vụ án giết người do bị cáo Kh và nhóm đồng phạm thực hiện. Tại phiên tòa ông Đ và bị cáo đều xác định giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn. Bị cáo xác định trước khi xe ô tô bị cáo điều khiển va chạm với xe ba bánh của anh Tr, bị cáo hoàn toàn không biết ai là người điều khiển chiếc xe này. Nên Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định đây là vụ tai nạn giao thông. Bị cáo Kh là người điều khiển xe ô tô vi phạm quy định của Luật Giao thông đường bộ dẫn đến hậu quả chết người nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Trong tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, người phạm tội vô ý gây ra hậu quả nên không có đồng phạm. Do đó cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Kháng cáo của ông Đ về nội dung này không có căn cứ chấp nhận.
. Xét những kháng cáo khác của đại diện bị hại:
Về trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Khung hình phạt của khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là phạt tù từ 03 năm đến 07 năm. Bị cáo Kh có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là Tái phạm và được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, đã tích cực tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại 200.000.000 đồng, có công trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm được Công an huyện Bình Giang xác nhận, tích cực ủng hộ quỹ phòng chống dịch Covid tại địa phương theo quy định tại điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 37 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo cũng như đã xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Kháng cáo của ông Đ về hình phạt đối với bị cáo không có cơ sở chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm, các đại diện của bị hại đều xác nhận gia đình bị hại đã nhận số tiền 200.000.000 đồng gia đình bị cáo bồi thường khắc phục hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra. Ngoài số tiền trên, đại diện hợp pháp của bị hại chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản tiền cấp dưỡng cho hai con của anh Tr đến khi các cháu đủ 18 tuổi, mức cấp dưỡng đề nghị Tòa án xem xét theo quy định của pháp luật. Xét hành vi của bị cáo gây ra hậu quả khiến anh Tr tử vong là mất mát không thể nào có thể bù đắp được, anh Tr là lao động chính trong gia đình, anh có 02 con hiện đều còn rất nhỏ là cháu Nguyễn Minh Kh1, sinh ngày 17/5/2017 và cháu Nguyễn Danh Ph, sinh ngày 20/01/2019. Mức cấp dưỡng cấp sơ thẩm buộc bị cáo phải có trách nhiệm cấp dưỡng cho hai con của anh Tr mỗi cháu 500.000đồng/tháng là chưa phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông Đ, sửa bản án sơ thẩm theo hướng tăng mức cấp dưỡng đối với cháu Ph, cháu Kh1, mỗi cháu ½ tháng lương tối thiểu hiện tại.
Về xử lý vật chứng: Chiếc xe ba bánh tự chế là tài sản hợp pháp của anh Tr và chị B. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị giải quyết chiếc xe theo quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên tịch thu chiếc xe cho phát mại sung quỹ nhà nước là không có căn cứ. Hội đồng xét xử cần sửa bản án sơ thẩm theo hướng tuyên trả lại chiếc xe cho đại diện bị hại. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo tự nguyện bồi thường khoản thiệt hại của chiếc xe ba bánh tự chế là 2.550.000 đồng nên cần chấp nhận.
Ông Đ kháng cáo tại phiên tòa sơ thẩm vắng mặt những người làm chứng, tuy nhiên họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, việc vắng mặt của người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó cấp sơ thẩm xét xử vắng mặt người làm chứng là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Kim Đ kháng cáo được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết hạn kháng cáo kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Kim Đ. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 68/2022/HS-ST ngày 20/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng.
2. Điều luật áp dụng và hình phạt
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 584, 585, 586, 591, 593, 357, 468 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Kh 37 (ba mươi bảy) tháng tù về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 06/03/2022.
3. Về trách nhiệm dân sự:
Xác nhận bị cáo Nguyễn Văn Kh đã tự nguyện bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn Tr số tiền 200.000.000 đồng.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn Kh có trách nhiệm cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Minh Khang, sinh ngày 17/5/2017 và cháu Nguyễn Danh Phúc, sinh ngày 20/01/2019 mỗi cháu 745.000 đồng/tháng kể từ tháng 8/2021 đến khi cháu Khang, cháu Phúc đủ 18 tuổi.
Chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Văn Kh bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại phần giá trị thiệt hại của xe ba bánh tự chế là 2.550.000 đồng (Hai triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).
Sau khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án các khoản tiền nêu trên cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Về xử lý vật chứng:
Trả lại cho đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn Tr 01 xe ba bánh tự chế không có biển số đã cũ, màu sơn xanh đã bị hư hỏng nhiều chi tiết bộ phận do tai nạn giao thông.
(Tình trạng và đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Cẩm Giàng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Giàng ngày 14/6/2022).
5. Về án phí: Ông Nguyễn Kim Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương; - TAND huyện Cẩm Giàng; - CQCSĐT - CA huyện Cẩm Giàng; - CQTHAS - CA tỉnh Hải Dương - VKSND huyện Cẩm Giàng; - Chi cục THADS huyện Cẩm Giàng; - Trại tạm giam CA tỉnh Hải Dương; - Bị cáo; - Đại diện bị hại; - Lưu: HS, VP, THS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Hữu Hiệu |