- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, Tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận Ông Nguyễn Văn K và bà Lương Bích L là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 120/2022/HNGĐ-ST Ngày 26 tháng 8 năm 2022 “V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Hoàng Giang.
Ông Trần Minh Út.
- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Sơn Ca – Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Trong ngày 26 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 194/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2022 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 332/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn K; Sinh năm: 1979 (Có Mặt).
Địa chỉ: Ấp TĐ, xã TH, huyện PT, tỉnh CM.
- Bị đơn: Bà Lương Bích L; Sinh năm 1981 (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp TĐ, xã TH, huyện PT, tỉnh CM.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 6 năm 2022, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn Ông Nguyễn Văn K trình bày:
Về hôn nhân: Ông Nguyễn Văn K và bà Lương Bích L chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2007, không có đăng ký kết hôn theo quy định. Quá trình chung sống thời gian đầu rất hạnh phúc, nhưng thời gian sau vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Lương Bích L.
Về con chung: Trong quá trình chung sống ông K và bà L có 01 con chung, tên Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 09/11/2008 (giới tính nữ) hiện do bà Lương Bích L nuôi dưỡng. Ông yêu cầu khi ly hôn ông yêu cầu tiếp tục giao con chung cho bà L nuôi dưỡng,ông Không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Lương Bích L trình bày:
- Về hôn nhân: Bà L thừa nhận bà vàông xã TH, huyện PT, tỉnh CM không có đăng ký kết hôn, quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẩn. Bà đồng ý ly hôn với Ông Nguyễn Văn K.
- Về con chung: Trong quá trình chung sống bà L vàông xã TH, huyện PT, tỉnh CM có 01 người con chung, tên Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 09/11/2008 (giới tính nữ) hiện do bà nuôi dưỡng. Khi ly hôn bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầuông xã TH, huyện PT, tỉnh CM cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nội dung tranh chấp giữa Ông Nguyễn Văn K và bà Lương Bích L được xác định là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bà Lương Bích L là bị đơn có nơi cư trú tại xã TH, huyện PT, tỉnh CM nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo trình tự, thủ tục tố tụng.
[2] Về hôn nhân: Ông Nguyễn Văn K và bà Lương Bích L đều thừa nhận là tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2007 nhưng đến nay vẫn không đăng ký kết hôn, mặc dù có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật. Do đó, hôn nhân giữa Ông Nguyễn Văn K và bà Lương Bích L đã vi phạm pháp luật về mặt hình thức. Quá trình chung sống, Ông Nguyễn Văn K bà Lương Bích L xác định có nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm. Tại phiên tòaông xã TH, huyện PT, tỉnh CM, bà L đều thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông, bà được ly hôn. Hội đồng xét xử nhận thấy tình trạng hôn nhân củaông xã TH, huyện PT, tỉnh CM và bà L đã lâm và tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của Ông Nguyễn Văn K được ly hôn với bà Lương Bích L. Tuy nhiên, doông xã TH, huyện PT, tỉnh CM và bà L sống chung với nhau như vợ, chồng nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định, do đó có cơ sở tuyên bố mối quan hệ hôn nhân giữa Ông Nguyễn Văn K và bà Lương Bích L không được pháp luật công nhận là vợ chồng.
[3] Về con chung:ông xã TH, huyện PT, tỉnh CM, bà L đều xác định hai người có một người con chung, tên Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 09/11/2008 (giới tính nữ), khi ly hônông xã TH, huyện PT, tỉnh CM, bà L thống nhất giao con cho bà L nuôi dưỡng,ông xã TH, huyện PT, tỉnh CM không chấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, các bên đương sự đều thống nhất giao con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, người trực tiếp nuôi con cũng không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Đồng thời tại bản tự khai ngày 09/6/2022, Nguyễn Ngọc N có nguyện vọng sống chung với mẹ là bà Lương Bích L. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu củaông xã TH, huyện PT, tỉnh CM, giao con chung tên Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 09/11/2008 (giới tính nữ) cho bà Lương Bích L nuôi dưỡng, Ông Nguyễn Văn K không cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân gia đình Ông Nguyễn Văn K phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 207 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 9, 14, 81, 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận Ông Nguyễn Văn K và bà Lương Bích L là vợ chồng.
2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 09/11/2008 (giới tính nữ) cho bà Lương Bích L trực tiếp nuôi dưỡng, Ông Nguyễn Văn K không cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.
Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình: Ông Nguyễn Văn K phải chịu số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Ngày 09 tháng 06 năm 2022, Ông Nguyễn Văn K đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000đ theo biên lai số 0017965 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân được chuyển thu khi bản án có hiệu lực, pháp luật.
Ông Nguyễn Văn xã TH, huyện PT, tỉnh CM và bà Lương Bích L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Phú Tân; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, văn thư. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Trần Hoàng Giang Trần Minh Út | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Bình THẨM PHÁN CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Bình |