- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỷ T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:120 /2022/HNGĐ-ST Ngày: 24/8/2022 V/v "Tranh chấp ly hôn và nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn P
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn N
2. Ông Nguyễn Phương T
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hồ Quế T – Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện LH, tỉnh VL
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LH tham gia phiên toà: Không tham gia
Trong ngày 24 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện LH, tỉnh VL xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 387/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỷ T, sinh năm 1994; Địa chỉ: Số 100/6 ấp PL, xã TQ, huyện LH, tỉnh VL. Nơi sống hiện nay: ấp PB B, xã PQ, huyện LH, tỉnh VL (Có mặt).
2.Bị đơn: Anh Hà Hoàng S, sinh năm 1994; Địa chỉ: Số 100/6 ấp PL, xã TQ, huyện LH, tỉnh VL (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỷ T trình bày: Chị T và anh S kết hôn năm 2020 được hai gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn ngày 04/3/2020 tại UBND xã TQ, huyện LH, tỉnh VL. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 01 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do không hợp, không đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau nên. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu ly hôn với anh Hà Hoàng S.
Về con chung: Có 01 con chung tên Hà Ngọc T, sinh ngày 23/10/2020, hiện tại cháu đang sống chung với anh S. Chị T yêu cầu được nuôi con không yêu cầu anh S cấp dưỡng
Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết
Về nợ chung: không yêu cầu giải quyết
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Hà Hoàng S trình bày:
Thống nhất lời trình bày của chị Nguyễn Thị Mỷ T nhưng không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Có 01 con chung tên Hà Ngọc T, sinh ngày 23/10/2020, hiện tại cháu đang sống chung với anh S và anh S yêu cầu nuôi con không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết
Về nợ chung: không yêu cầu giải quyết
* Tại phiên tòa hôm nay: có mặt các đương sự.
- Nguyên đơn trình bày: vẫn bảo lưu ý kiến, yêu cầu của mình. Anh S có cho rước con về sống bên chị T 01 tuần mới gửi về bên nội.
- Bị đơn vẫn bảo lưu ý kiến của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh S quen biết nhau rồi tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 04/3/2020 tại Ủy ban nhân dân xã TQ, huyện LH, tỉnh VL là phù hợp với quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, quan hệ hôn nhân là hợp pháp và được pháp luật công nhận.
Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, Tòa án xét thấy: mâu thuẫn giữa hai vợ chồng là do cuộc sống chung không hòa hợp được với nhau, không cùng quan điểm sống. Trước đó chị T cũng đã về cha mẹ ruột sống rồi sau đó lại quay về nhà chồng. Hiện nay chị T không còn sống chung với anh S nữa. Mặc khác, chị T thừa nhận không còn tình cảm với anh S. Do đó, anh S không đồng ý ly hôn là không thể chấp nhận được.
Xét mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Tòa án chấp nhận cho ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Hà Ngọc T, sinh ngày 23/10/2020, hiện tại cháu đang sống chung với anh S. Xét chị T yêu cầu nuôi dưỡng cháu T là không có cơ sở. Theo khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân & gia đình năm 2014 thì con dưới 36 tháng tuổi giao cho mẹ trực tiếp nuôi. Tuy nhiên, từ lúc sinh ra cháu T đã sống chung cùng với anh S tại gia đình bên nội và hiện tại cháu vẫn sống chung với anh S. Tại phiên tòa chị T vẫn thừa nhận là vẫn rước cháu T về bên chị sống 01 tuần lễ mới gửi về lại bên gia đình anh S. Nhằm không làm xáo trộn cuộc sống hàng ngày và sự phát triển tâm sinh lý của cháu T nên Tòa án tiếp tục giao cháu T cho anh S tiếp tục nuôi dưỡng. Anh S không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn nên phải chịu toàn bộ án phí giải quyết vụ án hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- Áp dụng Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỷ T.
Chị Nguyễn Thị Mỹ T được ly hôn với anh Hà Hoàng S.
2. Về con chung: Không chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Mỷ T nuôi con chung tên Hà Ngọc T, sinh ngày 23/10/2020. Tiếp tục giao cháu Hà Ngọc T, sinh ngày 23/10/2020 cho anh Hà Hoàng S trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục. Chị Nguyễn Thị Mỷ T không phải cấp dưỡng nuôi con và được quyền tới lui thăm nom con mà không ai được quyền ngăn cản
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Buộc nguyên đơn nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ từ 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp theo biên lai thu số 0004086 ngày 04/7/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện LH, tỉnh VL.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKS nhân dân huyện Long Hồ; - Chi cục THADSHLH; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Huỳnh Tấn Phong |