- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng kinh doanh, giữa: Nguyên đơn: Ban quản lý khu du lịch A - Bị đơn: Nguyễn Thị T"
- Tòa quyết gì? Không chấp nh n yêu cầu kháng cáo của bị đơn, s a Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2020/DS-ST ngày 20/8/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Y1.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 120/2022/DS-PT Ngày: 26/9/2022 V/v: Tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng kinh doanh. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phước Hiệu
Các Thẩm phán:
Bà Vũ Thị Thanh Hòa
Ông Đặng Văn Cường
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân t nh Bình Thu n.
- i di n i n i m át nh n d n t nh Bình Th n tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 9 năm 2022, t i tr s Tòa án nhân dân t nh Bình Thu n t
ph c thẩm C khai v án dân sự ph c thẩm th lý số 96/2020/TLPT-DS ngày 21 tháng 10 năm 2020, về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng kinh doanh”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2020/DS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Y1 bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa v án ra t ph c thẩm số 138/2022/QĐ-PT ngày 15 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:
- Ng yên đơn: Ban Quản lý khu du lịch A;
Địa ch : Số 378 đường K, khu phố 6, phường X1, thành phố Y1, t nh Bình Thu n.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hà Th c Thủy, chức v : Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Thanh Tr c, chức v : Phó Giám đốc. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1969;
Địa ch : Khu phố 5, phường X1, thành phố Y1, t nh Bình Thu n. Có mặt.
Người kháng cáo: Người đ i diện theo ủy quyền của bị đơn ông Trần Hải C (ngày 12/7/2022 bị đơn Nguyễn Thị T có văn bản chấm dứt ủy quyền).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung v án được tóm tắt như sau:
Nguyên đơn khai và yêu cầu Tòa án giải quyết nội dung sau:
Ngày 15/8/2003, Ban quản lý khu du lịch A (sau đây gọi tắt là Ban quản lý) được Ủy ban nhân dân t nh giao quản lý để ây dựng cơ s h tầng t i khu vực X, tọa l c t i khu phố 5, phường X1, thành phố Y1. Ban quản lý thực hiện việc thông báo rộng rãi đến quần ch ng nhân dân, để ai có nhu cầu thì đăng ký giao thầu theo quy định. Ngày 05/12/2003, ông Nguyễn Văn C có đơn in đấu thầu và được Ủy ban nhân dân thành phố Y1 phê duyệt, giao lô đất ký hiệu B1 cho ông C để kinh doanh. Căn cứ vào đó, ngày 10/01/2004 Ban quản lý l p Hợp đồng thuê mặt bằng số 09/HĐ-DLHTMN với nội dung cho ông Nguyễn Văn C thuê mặt bằng lô đất ký hiệu B1 để sản uất, kinh doanh, với diện tích là 275m2, thời h n thuê là 10 năm kể từ ngày ký kết hợp đồng đến hết ngày 10/01/2014.
Ngày 23/12/2009, ông C sang nhượng l i mặt bằng trên cho bà Nguyễn Thị T, bà T thực hiện việc kinh doanh cho đến nay. Ngày 22/10/2014, bà T có đơn xin ký hợp đồng thuê l i lô đất trên và được Ủy ban nhân dân thành phố Y1 phê duyệt. Ngày 30/3/2015, Ban quản lý l p Hợp đồng cho thuê mặt bằng kinh doanh số 05/HĐKDLHTMN về việc tiếp t c cho bà T thuê l i lô B1, với thời h n 03 năm từ ngày 01/01/2015 đến ngày 01/01/2018. T i m c 4.5 của hợp đồng này thể hiện nội dung khi bên thuê hết thời h n thuê đất, nếu không được tiếp t c cho thuê thì trong thời h n 30 ngày phải tự tháo dỡ, di dòi tài sản trên đất để giao l i cho Ban quản lý và mọi khoản đầu tư trên đất trong quá trình kinh doanh, chi phí di dời khi hết h n do bên thuê chịu.
Ngày 22/11/2017, Ban quản lý ra Thông báo số 222/TB-BQLHTMN để thông báo cho bà T biết việc sắp hết thời h n thuê mặt bằng. Ngày 02/01/2018, Ban quản lý ra Thông báo số 17/TBBQLHTMN về việc chấm dứt hợp đồng cho thuê mặt bằng với bà T. Tiếp đó các ngày 19/5/2018, 26/9/2018, Ban quản lý ban hành các thông báo về việc yêu cầu các hộ kinh doanh (trong đó có bà Nguyễn Thị T) tháo d , dọn dẹp, giao trả l i mặt bằng khu vực X. Tuy nhiên, đến nay bà T vẫn không thực hiện nên Ban quản lý kh i kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn là bà Nguyễn Thị T phải tháo dỡ, di dời tài sản trên đất, trả l i mặt bằng lô đất ký hiệu B1, diện tích 275m2 tọa l c t i khu du lịch X, khu phố 5, phường X1 cho Nhà nước quản lý theo quy định.
Bị đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:
Nguyên th a đất B1 là do ông Nguyễn Văn C đấu thầu và thuê từ năm 2003, thời điểm này ông C ch dựng 01 căn chòi t m trên đất để hành nghề ch p hình. Sau đó, vì bị bệnh nên ông C sang nhượng l i cho bà T và bà T có giao cho ông C một khoản tiền nhưng bà không nhớ rõ là bao nhiêu. Bà T nh n mặt bằng và kinh doanh bán quán khoảng năm 2004, 2005 nhưng đến năm 2009 thì mới ký hợp đồng sang nhượng với ông C và được Ban quản lý đồng ý. Sau khi nh n mặt bằng, bà T có đầu tư chi phí bồi đắp, ây dựng hàng quán để kinh doanh. Đến năm 2015, Ban quản lý có mời bà T đến làm việc do hợp đồng thuê mặt bằng ký kết với ông C trước đó đã hết thời h n, khi đó Ban quản lý đồng ý cho bà T tiếp t c thuê mặt bằng và có l p hợp đồng gia h n. Vì nghĩ rằng được tiếp t c thuê thời h n 10 năm như hợp đồng trước, nên bà T không đọc nội dung mà ký tên. Đến năm 2017, bà T được Ban quản lý thông báo về việc hết hợp đồng thuê đất thì bà mới vỡ lẽ, biết hợp đồng ch gia h n thêm 03 năm. Nay Ban quản lý kh i kiện yêu cầu bà T tháo dỡ và trả l i mặt bằng, bà không đồng ý và đề nghị được tiếp t c ký hợp đồng thuê mặt bằng; nếu Ban quản lý không tiếp t c cho thuê thì đề nghị hỗ trợ, hoàn trả khoản tiền đầu tư trên đất để gia đình bà T di dời, tìm và ây dựng chỗ mới.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2020/DS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Y1 đã quyết định:
Áp dụng: Khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39, điểm g khoản 1 Điều 40, Điều 91, Điều 147; Điều 157, Điều 158, Điều 227, Điều 228 và Điều 235 Bộ lu t tố t ng dân sự; Điều 472, Điều 474 và Điều 482 Bộ lu t dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s d ng án phí và lệ phí Tòa án; Lu t Thi hành án dân sự.
T yên xử: Chấp nh n yêu cầu kh i kiện của Ban quản lý Khu du lịch A. Buộc bà Nguyễn Thị T phải tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản có trên đất để trả l i tổng diện tích cho thuê là 275m2 (lô đất B1) t i khu phố 5, phường X1, thành phố Y1 theo hợp đồng số 05/HĐ-KDLHTMN ngày 30/3/2015 cho Ban quản lý Khu du lịch Hàm Tiến – X1.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên buộc bị đơn chịu án phí sơ thẩm, chi phí tố t ng và giải thích quyền, nghĩa v thi hành án.
Ông Trần Hải Cường là người đ i diện theo ủy quyền của bị đơn Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp ph c thẩm hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm số 36/2020/DS-ST ngày 20/8/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Y1.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn có thay đổi yêu cầu kháng cáo: đồng ý trả l i đất cho Bản quản lý Khu du lịch A và tháo dỡ các tài sản trên đất, nhưng đề nghị được hỗ trợ số tiền 500.000.000 đồng và cấp đất tái định cư.
- Người đ i diện hợp pháp của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kh i kiện và đề nghị bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn.
- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết v án:
+ Về tố t ng: Tòa án cấp ph c thẩm đã thực hiện đ ng trình tự, thủ t c theo quy định của pháp lu t trong quá trình giải quyết v án.
+ Về nội dung: Bản án sơ thẩm tuyên buộc bị đơn phải di dời tài sản trả diện tích đất cho thuê t i khu phố 5, phường X1 theo như hợp đồng thuê mặt bằng cho Ban quản lý là có căn cứ; các yêu cầu nêu trong đơn kháng cáo của bị đơn là không có cơ s để chấp nh n. Tuy nhiên, trong quá trình t ph c thẩm, cấp ph c thẩm tiến hành em t thẩm định và đo đ c để ác định l i toàn bộ diện tích đất tranh chấp là 268,3m2 (theo như bản đồ hiện tr ng vị trí th a đất của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Y1) nên cần phải s a án sơ thẩm cho phù hợp để đảm bảo thi hành án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ v án đã được thẩm tra t i phiên tòa ph c thẩm; trên cơ s em t đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và tranh lu n t i phiên tòa của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng t nh n thấy:
Về thủ t c kháng cáo: Ông Trần Hải C là người đ i diện theo ủy quyền của bị đơn có đơn kháng cáo, nộp t m ứng án phí ph c thẩm theo quy định và nằm trong ph m vi ủy quyền theo Giấy ủy quyền l p ngày 03/02/2020 số C chứng 00298, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD t i Văn phòng C chứng Nguyễn Dần. Tuy nhiên, đơn kháng cáo không thể hiện ngày, tháng, năm làm đơn, cũng không thể hiện thời điểm nh n đơn kháng cáo, đây là thiếu sót mà Tòa án cấp sơ thẩm cần r t kinh nghiệm.
T i cấp ph c thẩm, bị đơn Nguyễn Thị T có văn bản chấm dứt ủy quyền l p ngày 12/7/2022 nhưng vẫn giữ yêu cầu kháng cáo và nội dung kháng cáo này nằm trong ph m vi em t theo thủ t c t ph c thẩm.
Về tố t ng, quan hệ pháp lu t: Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2020/ DS-ST ngày 20/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Y1 đã ác định quan hệ tranh chấp, ác định định tư cách tham gia tố t ng theo đ ng quy định. Các đương sự đã được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa v theo quy định của Bộ lu t tố t ng dân sự.
T i phiên tòa sơ thẩm, cũng như t i phiên tòa ph c thẩm bị đơn Nguyễn Thị T khai có chồng và các con cùng chung sống, đầu tư, kinh doanh trên đất. X t hợp đồng thuê mặt bằng kinh doanh giữa Ban quản lý khu du lịch A với bà Nguyễn Thị T là đ i diện hộ kinh doanh cá thể, đứng ra ký kết hợp đồng. Khi hết thời h n được ấn định trong hợp đồng, bà T không thực hiện đ ng cam kết, nghĩa v và trách nhiệm của bên thuê đất nên Ban quản lý kh i kiện bà T là đ ng quy định; Tòa án cấp sơ thẩm nh n định và không đưa chồng, con bà T vào tham gia tố t ng là phù hợp.
X t kháng cáo của bị đơn đề nghị hủy bản án sơ thẩm, Hội đồng t
thấy:
Đối với nội dung bị đơn cho rằng Ban quản lý khu du lịch A không có quyền khởi kiện vì chỉ là cơ quan giúp việc cho Ủy ban nhân dân thành phố Y1: Thấy rằng, các tài liệu, chứng cứ thể hiện ngày 05/5/2000 Ủy ban nhân dân thành phố Y1 ban hành Quyết định số 373/2000/QĐ-UBPT về việc thành l p Ban quản lý khu du lịch A, được s d ng con dấu riêng và độc l p về tài chính, nên ác định đây là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Y1. Ngày 15/8/2003, Ủy ban nhân dân t nh Bình Thu n ban hành Quyết định số 2009/QĐ-CTUBND về việc thu hồi đất và giao đất cho Ban quản lý khu du lịch A, để từ đó Ban quản lý thực hiện việc đấu thầu và cho ông Nguyễn Văn C thuê mặt bằng lô đất ký hiệu B1 theo nội dung Hợp đồng thuê mặt bằng kinh doanh l p ngày 10/01/2004, với thời h n 10 năm từ ngày 10/01/2004 đến ngày 10/01/2014, sau đó ông C sang nhượng l i mặt bằng cho bà Nguyễn Thị T. Hết thời h n này, giữa Ban quản lý và bà T ký kết hợp đồng gia h n thời gian thuê thêm 03 năm từ ngày 01/01/2015 đến ngày 01/01/2018. Mặt khác, đối tượng kh i kiện trong v án này là các hợp đồng cho thuê mặt bằng kinh doanh, được ký kết giữa bên cho thuê là Ban quản lý khu du lịch A với bên thuê là bà Nguyễn Thị T.
Do đó, có đủ cơ s để ác định Ban quản lý khu dịch A được quyền định đo t đối với lo đất B1 cho bà T thuê nên có quyền kh i kiện theo quy định.
Đối với nội dung vụ án:
Hồ sơ v án thể hiện ngày 10/01/2004 Ban quản lý l p Hợp đồng thuê mặt bằng số 09/HĐ-DLHTMN với nội dung cho ông Nguyễn Văn C thuê mặt bằng lô đất ký hiệu B1 để sản uất, kinh doanh, với diện tích là 275m2, thời h n thuê là 10 năm kể từ ngày ký kết hợp đồng đến hết ngày 10/01/2014. Đến ngày 23/12/2009, ông C sang nhượng l i mặt bằng trên cho bà Nguyễn Thị T, bà T thực hiện việc kinh doanh cho đến nay. Ngày 22/10/2014, bà T có đơn in ký hợp đồng thuê l i lô đất trên và được Ủy ban nhân dân thành phố Y1 phê duyệt. Ngày 30/3/2015, Ban quản lý l p Hợp đồng cho thuê mặt bằng kinh doanh số 05/HĐKDLHTMN về việc tiếp t c cho bà T thuê l i lô B1, với thời h n 03 năm từ ngày 01/01/2015 đến ngày 01/01/2018.
Ngày 22/11/2017, Ban quản lý ra Thông báo số 222/TB-BQLHTMN để thông báo cho bà T biết việc sắp hết thời h n thuê mặt bằng. Ngày 02/01/2018, Ban quản lý ra Thông báo số 17/TBBQLHTMN về việc chấm dứt hợp đồng cho thuê mặt bằng với bà T. Tiếp đó các ngày 19/5/2018, 26/9/2018, Ban quản lý ban hành các thông báo về việc yêu cầu các hộ kinh doanh (trong đó có bà Nguyễn Thị T) tháo d , dọn dẹp, giao trả l i mặt bằng khu vực X.
Việc ký kết hợp đồng thuê mặt bằng kinh doanh nêu trên dựa trên ý chí và sự tự nguyện thỏa thu n của các bên, nên đây là căn cứ vững chắc để em t quyền và nghĩa v của các bên khi thực hiện hợp đồng, để giải quyết toàn bộ nội dung v án. Bị đơn Nguyễn Thị T khai rằng bà có ký tên vào Hợp đồng cho thuê mặt bằng kinh doanh số 05/HĐKDLHTMN nhưng không đọc nội dung nên lầm tư ng thời h n được gia h n thuê là 10 năm, tuy nhiên đây ch là lời khai n i của bà T, bà cũng không thể đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc bị nhầm lẫn, bị lừa dối ký kết hợp đồng nên không có cơ s em t.
T i m c 4.5 của Hợp đồng cho thuê mặt bằng kinh doanh số 05/HĐKDLHTMN, thể hiện: “Khi hết hạn hợp đồng thuê mặt bằng kinh doanh nếu không được cấp thẩm quyền tiếp tục cho thuê thì trong thời gian 30 ngày (kể từ ngày bên A có thông báo) thì bên B phải tự tháo dở, di dời tài sản trên dất giao lại mặt bằng cho bên A quản lý theo quy định. Mọi khoản đầu tư trên đất trong quá trình kinh doanh, chi phí di dời khi hết hạn hợp đồng do bên B chịu trách nhiệm”. Ngày 22/11/2017, Ban quản lý ra Thông báo số 222/TB-BQLHTMN để thông báo cho bà T biết việc sắp hết thời h n thuê mặt bằng. Ngày 02/01/2018, Ban quản lý ra Thông báo số 17/TBBQLHTMN về việc chấm dứt hợp đồng cho thuê mặt bằng với bà T. Tiếp đó các ngày 19/5/2018, 26/9/2018, Ban quản lý ban hành các thông báo về việc yêu cầu các hộ kinh doanh (trong đó có bà Nguyễn Thị T) tháo d , dọn dẹp, giao trả l i mặt bằng khu vực X. Như v y, Ban quản lý khu du lịch A đã thực hiện đầy đủ trách nhiệm thông báo chấm dứt việc cho thuê mặt bằng, bà Nguyễn Thị T nh n được thông báo và biết rõ điều này nhưng không thực hiện là vi ph m nội dung đã thỏa thu n t i m c 4.5 của Hợp đồng cho thuê mặt bằng kinh doanh số 05/HĐKDLHTMN.
Từ những căn cứ nêu trên, thấy rằng việc em t, đánh giá các tình tiết khách quan của v án, nh n định và quyết của Tòa án cấp sơ thẩm là tuân thủ đ ng quy định pháp lu t. Tuy nhiên, quá trình thực hiện việc đo đ c diện tích đất t i cấp ph c thẩm, thì diện tích lô ký hiệu B1 thực tế là 268,3m2. Tòa án cấp sơ thẩm ch căn cứ vào nội dung và diện tích đất thể hiện trong hợp đồng thuê mặt bằng để tuyên buộc bị đơn trả l i 275m2 đất là chưa đảm bảo cho việc thi hành án. T i phiên tòa ph c thẩm người đ i diện hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả l i phần diện tích đo đ c thực tế là 268,3m2 như sơ đồ đo đ c hiện tr ng của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Y1. Do đó, cần s a bản án sơ thẩm theo hướng buộc bị đơn phải tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản có trên đất để trả l i tổng diện tích cho thuê đo đ c thực tế 268,3 m2, là phù hợp như lời đề nghị của đ i diện Viện kiểm sát.
Chi phí tố t ng t i cấp ph c thẩm: Do kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T không được chấp nh n nên bà T phải chịu chi phí em t, thẩm định t i chỗ t i cấp ph c thẩm là 1.250.000 đồng.
Về án phí dân sự ph c thẩm: Do bản án sơ thẩm bị s a nên bị đơn không phải chịu án phí dân sự ph c thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 308 và khoản 1 Điều 309 Bộ lu t Tố t ng Dân sự;
Không chấp nh n yêu cầu kháng cáo của bị đơn, s a Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2020/DS-ST ngày 20/8/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Y1.
1. Áp dụng: Khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39, điểm g khoản 1 Điều 40, Điều 91, Điều 147; Điều 157, Điều 158, Điều 227, Điều 228 và Điều 235 Bộ lu t tố t ng dân sự; Điều 472, Điều 474 và Điều 482 Bộ lu t dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s d ng án phí và lệ phí Tòa án; Lu t Thi hành án dân sự.
2. T yên xử: Chấp nh n yêu cầu kh i kiện của Ban quản lý Khu du lịch A. Buộc bà Nguyễn Thị T phải tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản có trên đất để trả l i tổng diện tích cho thuê được đo đ c thực tế là 268,3m2 (lô đất B1) t i khu phố 5, phường X1, thành phố Y1 theo hợp đồng số 05/HĐ-KDLHTMN ngày 30/3/2015 cho Ban quản lý Khu du lịch A.
3. ề án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn l i số tiền 300.000 đồng t m ứng án phí đã nộp trước đó theo biên lai thu tiền số 0023800 ngày 05/12/2018 của Chi c c Thi hành án dân sự thành phố Y1 cho Ban quản lý khu du lịch A.
Hoàn l i cho bà Nguyễn Thị T số tiền 300.000 đồng t m ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007882 ngày 16/9/2020 của Chi c c Thi hành án dân sự thành phố Y1.
4. ề chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị T phải có nghĩa v trả cho Ban quản lý khu du lịch A chi phí xem xét, thẩm định t i chỗ cấp sơ thẩm là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng); hoàn trả cho Ban quản lý khu du lịch A chi phí xem xét, thẩm định t i chỗ cấp ph c thẩm là 1.250.000 đồng. Tổng số tiền bà T phải trả là 4.250.000 đồng (bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định t i Điều 2 Lu t Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thu n thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7 và 9 Lu t Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định t i Điều 30 Lu t Thi hành án dân sự.
5. Bản án ph c thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./. Nơi nh n:
| - VKSND t nh Bình Thu n; - TAND, VKSND, THA TP.Y1; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ, TDS; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Phước Hiệu |