vanban.org

Bản án 120/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La Tuyên án 30/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo 4.8000.000 đồng. Về vật chứng: Áp dụng các điểm c khoản 1, khoản 2 điều 47 BLHS, điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN VĂN H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TAND HỆN V H
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 120/2021/HS-ST
Ngày 30 tháng 9 năm 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HỆN V H, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Quang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tráng A Lứ và ông Mùi Văn Hoạt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bàn Văn Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân Hện VH, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân HệnVH tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hương Mạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Hện VH, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 122/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2021/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2021, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, tên gọi khác: Không, sinh năm 1972, tại Lai Châu.

Địa chỉ: Số nhà 27/13/346, phố T H, phường H N, quận L Ch, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Ph (đã chết) và bà Nguyễn Thị N; bị cáo chưa có vợ con.

* Nhân thân:

- Ngày 02/10/2010 đã vào Trung tâm GD – LĐXH Hải Phòng (nay là cơ sở cai nghiện ma túy Gia Minh) cai nghiện tự nguyện. Ngày 06/3/2011 gia đình xin thanh lý hợp đồng.

- Ngày 09/02/1991 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 05 năm tù về tội Cướp tài sản, 01 năm tù về tội Tàng trữ vũ khí trái phép, căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 151, khoản 1 điều 95, điều 51 BLHS 1985. Tổng hợp hình phạt là 06 năm tù. Chấp hành xong hình phạt ngày 30/5/1996, đã chấp hành xong phần án phí và Bồi thường thiệt hại.

- Ngày 26/10/1999 Tòa án nhân dân Hện T D, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản công dân, căn cứ vào khoản 1 điều 155, điểm I khoản 1 điều 39, điều 33 BLHS 1985. Chấp hành xong bản án ngày 14/3/2002.

- Ngày 04/10/2005 Tòa án nhân dân quận H A, thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, căn cứ vào khoản 1 điều 138, điểm g, i khoản 1 điều 48, điểm g khoản 1 điều 46 BLHS 1999. Chấp hành xong hình phạt ngày 30/9/2006, được đương nhiên xóa án tích theo Nghị quyết số 33/2009/QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc Hội về việc thi hành luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự.

- Ngày 04/3/2008 Tòa án nhân dân quận Ng Q, thành phố Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, căn cứ vào điểm c khoản 2 điều 138, điểm g, p khoản 1 điều 46 BLHS 1999. Chấp hành xong hình phạt ngày 22/02/2010, được đương nhiên xóa án tích theo Nghị quyết số 33/2009/QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc Hội về việc thi hành luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự.

- Ngày 11/12/2012Tòa án nhân dân quận L Ch, thành phố Hải Phòng xử phạt 48 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, căn cứ vào khoản 1 điều 194, điểm g khoản 1 điều 48, điểm p khoản 1 điều 46 BLHS 1999. Chấp hành xong bản án ngày 06/9/2016.

Bị bắt tạm giam, tạm giữ từ ngày 24/4/2021 cho đến nay. Có mặt.

Người có QLNVLQ: Anh Nguyễn Tuấn D, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn H M, xã Đ Th, Hện A D, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 00 phút, ngày 24/4/2021, tại bản B Nh 2, xã VH, Hện VH, tỉnh Sơn La. Tổ công tác công an Hện VH kiểm tra phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn H tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ trong túi quần bên trái đang mặc của H 01 vỏ gói thuốc lào màu xanh, bên trong đựng 03 gói giấy trắng, bên trong mỗi gói đều đựng chất bột màu trắng, H khai nhận đó là Heroine tàng trữ để sử dụng. Cơ quan điều tra còn tạm giữ của H 01 xe mô tô Yamaha BKS 24B1 – 514.61, 01 giấy đăng ký xe, 01 giấy phép lái xe, 01 mũ bảo hiểm và số tiền 5.000.000 đồng.

Nguyễn Văn H khai nhận: Do nghiện ma túy, khoảng 07 giờ 30 ngày 24/4/2021, H điều khiển xe máy từ nhà đến khu vực đường tàu, thuộc quận L Ch, thành phố Hải Phòng tìm mua ma túy sử dụng. Tại đây, H gặp và hỏi mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi được 04 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Mua được ma túy, H cất vào vỏ túi thuốc lào màu xanh, rồi cất vào túi quần bên trái. Sau đó, H điều khiển xe máy lên huyện M Ch, tỉnh Sơn La chơi. Trên đường đi, H dừng xe bên đường, lấy 01 gói Heroine ra sử dụng, còn lại cất vào túi quần. Khoảng 16 giờ cùng ngày, H điều khiển xe máy đến địa phận bản B Nh 2, xã VH, huyện VH, tỉnh Sơn La thì bị Tổ công tác công an huyện VH kiểm tra, bắt quả tang. Nguyễn Văn H bị dẫn giải cùng tang vật về Cơ quan điều tra để xử lý.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành cân tịnh 03 gói nilonđựng chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn H xác định được:

+ Số chất bột màu trắng trong gói giấy trắng thứ nhất có khối lượng là 0,11 gam, lấy toàn bộ gửi giám định, ký hiệu H.

+ Số chất bột màu trắng trong gói giấy trắng thứ hai có khối lượng là 0,12 gam, lấy toàn bộ gửi giám định, ký hiệu H1.

+ Số chất bột màu trắng trong gói giấy trắng thứ ba có khối lượng là 0,13 gam, lấy toàn bộ gửi giám định, ký hiệu H2.

Tổng khối lượng là 0,36 gam.

Kết luận giám định số 875/KLMT ngày 27/47/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận "Mẫu giám định ký hiệu H, H1, H2 đều là ma túy; Loại Heroine; Khối lượng của các mẫu gửi giám định là H = 0,11 gam, H1 = 0,12 gam, H2 = 0,13 gam; Tổng khối lượng của ma túy thu giữ là 0,36 gam, loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định: Chất bột màu trắng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu H, H1, H2 không sử dụng đến trong quá trình giám định, có khối lượng là H = 0,07 gam, H1 = 0,08 gam, H2 = 0,09 gam”

Quá trình điều tra xác định được: Bị cáo không biết tên, địa chỉ của người đàn ông khoảng 40 tuổi đã bán ma túy cho bị cáo. Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với người này.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, BKS 24B1 – 514.61 cùng 01 giấy đăng ký xe, bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội. Bị cáo khai chiếc xe là do bị cáo mượn của anh Nguyễn Tuấn D (con của anh trai bị cáo). Số tiền 5.000.000 đồng là tài sản của bị cáo lao động mà có.

Cáo trạng số 92/CT – VKS ngày 14/9/2021 của VKSND huyện VH, truy tố Nguyễn Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS. Tại phiên tòa, kiểm sát viên vẫn bảo vệ nội dung Cáo trạng truy tố bị cáo, đề nghị HĐXX xem xét: Tuyên bố Nguyễn Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy

* Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, khoản 2, 3 điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn H từ 21đến 24 tháng tù.

+ Phạt bổ sung đối với bị cáo từ 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng;

Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu để tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 phong bì niêm phong gửi giám định đã bóc mở niêm phong và chất bột màu trắng, ký hiệu H, H1, H2 thuộc mẫu gửi giám định, không sử dụng đến trong quá trình giám định có khối lượng 0,24 gam Heroine; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Nguyễn Văn H; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng Vỏ gói phong bì niêm phong ban đầu + vỏ gói thuốc lào màu xanh vàng cùng 03 mảnh giấy trắng, 01 mũ bảo hiểm màu đen, phía trước có chữ Puma đều đã qua sử dụng.

+ Trả lại bị cáo: 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Văn H.

+ Tạm giữ của bị cáo số tiền 5.000.000 đồng để đảm bảo thi hành án phí và phạt bổ sung.

+ Trả lại anh Nguyễn Tuấn D 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha loại Jupiter màu đen bạc, BKS 34B1 – 514.61, số máy 5B95123111, số khung 50BY123108, xe đã qua sử dụng, kèm 01 giấy đăng ký xe mô tô số 046966;

+ Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Ngày 24/4/2021, Nguyễn Văn H bị phát hiện bắt quả tang tàng trữ 03 gói Heroine, khối lượng 0,36 gam với mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 BLHS. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản ghi lời khai, hỏi cung, bản tự khai của bị cáo, Kết luận giám định chất ma túy của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa...

Tính chất hành vi của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân phát sinh tội phạm khác. Bị cáo nghiện ma túy, đã từng nhiều lần bị xử phạt tù, nhưng không lấy làm bài học cho bản thân. Do vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo, để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, nên được xem xét cho hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS.

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Hện VH, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Hện VH, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. HĐXX xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án Điều tra viên, Kiểm sát viên chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 249 BLHS, bị cáo có thể bị phạt tiền. Xét thấy bị cáo có tài sản, có khả năng thi hành, nên áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo phù hợp với khả năng kinh tế của bị cáo.

Vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 phong bì niêm phong gửi giám định đã bóc mở niêm phong và chất bột màu trắng, ký hiệu H, H1, H2 thuộc mẫu gửi giám định, không sử dụng đến trong quá trình giám định có khối lượng 0,24 gam Heroine; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Nguyễn Văn H; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng Vỏ gói phong bì niêm phong ban đầu + vỏ gói thuốc lào màu xanh vàng cùng 03 mảnh giấy trắng, là những vật bị cấm lưu hành hoặc không có giá trị sử dụng, 01 mũ bảo hiểm màu đen, phía trước có chữ Puma đều đã qua sử dụng, cần tuyên tịch thu để tiêu hủy.

01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Văn H là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội, cần tuyên trả lại cho bị cáo.

01 xe máy nhãn hiệu Yamaha loại Jupiter màu đen bạc,BKS 34B1 – 514.61, số máy 5B95123111, số khung 50BY123108, xe đã qua sử dụng, kèm 01 giấy đăng ký xe mô tô số 046966, đã qua sử dụng, bị cáo dùng vào việc phạm tội, là tài sản hợp pháp của cho anh Nguyễn Tuấn D. Anh D không biết và không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo. HĐXX xét thấy, cần trả lại cho anh D chiếc xe mô tô trên để quản lý, sử dụng là phù hợp.

Số tiền 5.000.000 đồng là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến tội phạm, không tịch thu, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án phí và tiền phạt bổ sung.

Về dân sự của vụ án: Anh Nguyễn Tuấn D đã được Cơ quan điều tra và Tòa án triệu tập, nhưng do dịch bệnh Covid, không thể có mặt tham gia tố tụng. Do vậy, không đặt vấn đề về trách nhiệm dân sự của bị cáo đối với anh D trong vụ án này. trả lại chiếc xe máy mà bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội. Tại phiên tòa, anh Nghi không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Do vậy, HĐXX không xem xét vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với bị cáo.

Về nguồn gốc chất ma túy: Người đàn ông, khoảng 40 tuổi đã bán ma túy cho bị cáo ở khu vực đường tàu thuộc quận L Ch, thành phố Hải Phòng, bị cáo không biết tên, địa chỉ. Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

Bị cáo phạm tội, phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, khoản 2, 3 điều 35 Bộ luật hình sự:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt: 24 (Hai bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tình từ ngày 24/4/2021.

Phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo 4.8000.000 đồng.

2. Về vật chứng: Áp dụng các điểm c khoản 1, khoản 2 điều 47 BLHS, điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu để tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 phong bì niêm phong gửi giám định đã bóc mở niêm phong và chất bột màu trắng, ký hiệu H, H1, H2 thuộc mẫu gửi giám định, không sử dụng đến trong quá trình giám định có khối lượng 0,24 gam Heroine; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Nguyễn Văn H; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng Vỏ gói phong bì niêm phong ban đầu + vỏ gói thuốc lào màu xanh vàng cùng 03 mảnh giấy trắng, 01 mũ bảo hiểm màu đen, phía trước có chữ Puma đều đã qua sử dụng.

+ Trả lại bị cáo: 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Văn H.

+ Trả lại anh Nguyễn Tuấn D 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha loại Jupiter màu đen bạc, BKS 34B1 – 514.61, số máy 5B95123111, số khung 50BY123108, xe đã qua sử dụng, kèm 01 giấy đăng ký xe mô tô số 046966.

+ Tạm giữ của bị cáo số tiền 5.000.000 đồng để đảm bảo thi hành án phí và phạt bổ sung.

Theo biên bản giao vật chứng số: 121/BBVC - CCTHA, ngày 17 tháng 9 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự Hện VH.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, người có QLNVLQ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án của Tòa án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAT

- VKS tỉnh, Hện

- CA Hện, CQ THAHS

- THADS

- Sở TP

- Trại Giam

- Bị cáo, người có QLNVLQ

- Lưu HS.

Nguyễn Đăng Quang

- Lưu VP.

Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:

Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:

(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân Hện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (Hện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân Hện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).

(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).

(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.

(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán..., đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.

(6)ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).

(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.

(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).

(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.

(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.

(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thânghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp thì ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họ tên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự; nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.

(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.

(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].

(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.

(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:

Cỡ chữ