- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Mạnh Hùng và đồng phạm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Mạnh H1 và Nguyễn Mạnh H2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 120/2021/HS - ST Ngày: 21 - 12 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hậu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Mùi và bà Hoàng Thị Thu Thảo.
- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Thái Long - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 122/2021/TLST - HS ngày 26 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2021/QĐXXST - HS ngày 06 tháng 12 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Mạnh H1, sinh năm 1986 tại phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Khu dân cư N, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh B (đã chết) và bà Trần Thị P; vợ là Dương Thị T và 01 con; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/9/2021 đến ngày 11/9/2021 bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Mạnh H2, sinh năm 1986 tại phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Khu dân cư N, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh B (đã chết) và bà Trần Thị P; vợ là Nguyễn Thị H (đã ly hôn) và 02 con; bị cáo thuộc trường hợp hộ cận nghèo; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2016/HSST ngày 14/7/2016 của tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xử phạt H2 03 tháng 03 ngày tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. H2 được trả tự do tại phiên tòa và đã nộp xong án phí.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/9/2021 đến ngày 11/9/2021 bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo:
Bà Lê Thị Thu H3 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hải Dương – là người bào chữa cho bị cáo H1. Có mặt.
* Người chứng kiến:
- Ông Trương Văn Đ, sinh năm 1960; địa chỉ: Khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1959; địa chỉ: Khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Mạnh H1 và Nguyễn Mạnh H2 là anh em ruột và đều là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng hơn 21 giờ, ngày 09/9/2021, H1 và H2 cùng rủ nhau đi mua ma túy để sử dụng. H2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu đen - đỏ, biển kiểm soát 34C1 - 37482 (xe do H2 mượn trước đó của anh Trần Văn H3) chở H1 đi từ khu dân cư N, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương đến đoạn đường thuộc khu dân cư T, phường S, thành phố C. Tại đây, H1 xuống xe và bảo H2 đứng chờ để H1 đi tìm mua ma túy. H1 đi bộ cách vị trí H2 đứng chờ khoảng 20 mét thì gặp và mua của một người đàn ông không rõ nhân thân, lý lịch 500.000 đồng (là tiền của H1) được 01 túi ma túy đựng trong 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng, nhãn hiệu “Thăng Long”. H1 cầm vỏ bao thuốc lá bên trong có chứa gói ma túy tại vị trí lòng bàn tay trái rồi đi bộ ra chỗ H2 đang đứng chờ và lên xe để H2 chở đi tìm nơi sử dụng. Khoảng 09 giờ 40 phút cùng ngày, khi H2 chở H1 đi đến đầu ngõ số 4, đường T1, khu dân cư T, phường S, thành phố C thì nhìn thấy lực lượng công an thành phố Chí Linh. Do sợ hãi nên H1 đã vứt vỏ bao thuốc lá bên trong có chứa túi ma túy xuống dưới mặt đất tại vị trí H1 đang đứng thì bị lực lượng Công an thành phố Chí Linh bắt quả tang; thu giữ tại vị trí mặt đất ngay dưới chân H1 đang đứng 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng, nhãn hiệu “Thăng Long”, bên trong có 01 túi nilon màu trắng, kích thước (1,8 x 1,5) cm, bên trong túi nilon chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, H1 và H2 khai là ma túy, mục đích cất giấu để H1 và H2 cùng sử dụng và thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu đen - đỏ, biển kiểm soát 34C1 - 37482.
Tại bản Kết luận giám định số 517/KLGĐ - PC09 ngày 12/9/2021, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong túi nilon được niêm phong trong phong bì gửi đến giám định khối lượng là 0,253 gam là ma túy, loại methamphetamine (khối lượng hoàn lại 0,228 gam).
Tại bản cáo trạng số 116/CT- VKS - CL ngày 26/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố các bị cáo Nguyễn Mạnh H1 và Nguyễn Mạnh H2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như nêu trên, thừa nhận việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh đối với mình là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Người bào chữa cho bị cáo H2 xác định Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo là đúng pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo H2 từ 12 tháng đến 15 tháng tù và miễn án phí cho bị cáo H2.
Đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Mạnh H1 và Nguyễn Mạnh H2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, Điều 58, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H1 từ 13 tháng đến 16 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 09/9/2021. Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H2 từ 14 tháng đến 17 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 09/9/2021. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy 0,228 gam ma túy, loại methamphetamine và vỏ bao gói mẫu hoàn lại sau giám định cùng 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng, nhãn hiệu “Thăng Long”. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Mạnh H1 phải chịu 200.000 án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Nguyễn Mạnh H2 được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 40 phút, ngày 09/9/2021, tại đầu ngõ số 4, khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Mạnh H1 và Nguyễn Mạnh H2 có hành vi cất giấu trái phép tại lòng bàn tay trái của H1 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng, nhãn hiệu “Thăng Long, bên trong vỏ bao thuốc lá có chứa 01 túi nilon màu trắng, kích thước (1,8 x 1,5 cm), bên trong túi nilon chứa 0,253 gam ma túy, loại methamphetamine. Mục đích H1 và H2 cất giấu ma túy để cùng sử dụng. Khi nhìn thấy lực lượng công an thành phố Chí Linh, H1 sợ hãi nên vứt vỏ bao thuốc lá có chứa túi ma túy bên trong xuống vị trí mặt đất ngay dưới chân H1 đang đứng thì bị lực lượng Công an thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự và ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Các bị cáo đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đều nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, bị nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi cất giấu trái phép 0,253 gam ma túy, loại methamphetamine của các bị cáo với mục đích sử dụng cho bản thân đã cấu thành thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đây là vụ án đồng phạm với tính chất giản đơn, các bị cáo Nguyễn Mạnh H1 và Nguyễn Mạnh H2 đều là người nghiện ma túy, cùng rủ nhau mua ma túy và cùng trực tiếp đi mua ma túy về sử dụng cho bản thân nên đều giữ vai trò là người khởi xướng, người thực hành, cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Tuy nhiên, bị cáo H1 giữ vai trò tích cực hơn bị cáo H2: Bị cáo H1 chỉ đường để bị cáo H2 dùng xe chở bị cáo đến địa điểm mua ma túy; bị cáo H1 là người bỏ tiền ra mua ma túy và trực tiếp giao dịch với người bán ma túy.
Xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thì thấy rằng:
Bị cáo Nguyễn Mạnh H2 là người có nhân thân xấu: Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2016/HSST ngày 14/7/2016 của tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xử phạt H2 03 tháng 03 ngày tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo H2 được trả tự do tại phiên tòa và đã nộp xong án phí.
Các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự; đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận tội nên các bị cáo đều được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo mục đích trừng trị, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo là người nghiện ma túy, cất giấu ma túy với mục đích để sử dụng cho bản thân; các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập thấp, nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ của các bị cáo: 0,253 gam ma túy, loại methamphetamine, sau khi giám định hoàn lại là 0,228 gam là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; 01 túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định và 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng, nhãn hiệu “Thăng Long” là vật không có giá trị, nên cần tịch thu cho tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với người đàn ông trực tiếp bán ma túy cho bị cáo H1, quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, có căn cứ xử lý sau nên không xem xét.
Anh Trần Văn H3 không biết bị cáo H2 sử dụng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu đen - đỏ, biển kiểm soát 34C1 - 37482 là tài sản thuộc sở hữu của anh để đi mua ma túy, chiếc xe không phải là công cụ, phương tiện phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe cho anh H3 và không đặt ra việc xử lý với anh nên không xem xét.
Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuy nhiên, bị cáo H2 là cá nhân thuộc hộ cận nghèo thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí và đã có đơn đề nghị miễn án phí nên Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo H2. Bị cáo H1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Mạnh H1 và Nguyễn Mạnh H2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H1 17 (mười bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 09/9/2021. Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H2 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 09/9/2021.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 0,228 gam ma túy, loại methamphetamine, 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định đựng trong phong bì niêm phong số 517/KLGĐ - PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương; 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng, nhãn hiệu “Thăng Long”.
(Vật chứng hiện do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/11/2021 giữa Công an thành phố Chí Linh và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương).
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Mạnh H1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Mạnh H2 được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Chí Linh; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Cơ quan CSĐT Công an TP Chí Linh; - Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh Hải Dương; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Chi cục THADS thành phố Chí Linh; - Trại tạm giam công an tỉnh Hải Dương; - Các bị cáo; - Người bào chữa cho bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hậu |