- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Xuân H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 120/2021/HS-ST Ngày: 30/11/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vi Thanh Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thái Quang Định
Bà Phạm Thị Dung
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mai Hƣơng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Mạnh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2021, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 120/2021/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2021/QĐXXST- HS ngày 18 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Xuân H, tên gọi khác: Không; sinh ngày 25/7/1993, tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: Tổ 16A, khu 5A, phường Q, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Đức T và bà Lưu Thị B; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt quả tang ngày 22/9/2021, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố Uông Bí. Vắng mặt. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Đức T, sinh năm: 1963; Địa chỉ: Tổ 16A, khu 5A, phường Q, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
* Những người làm chứng:
- Anh Đoàn Thanh C, sinh năm: 1974; Địa chỉ: Tổ 3, khu 8, phường T, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
- Anh Vũ Văn H, sinh năm: 1990; Địa chỉ: Tổ 1, khu H, phường P, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án , nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 10 phút ngày 22/9/2021, tổ công tác đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Uông Bí phối hợp với Công an phường T, thành phố Uông Bí làm nhiệm vụ tại tổ 2, khu 11, phường T, thành phố Uông Bí phát hiện bắt quả tang Lê Xuân H có hành vi cất giấu trái phép chất nghi là ma túy. Quá trình kiểm tra, thu giữ tại lòng bàn tay trái H 1 gói bạc màu vàng, bên trong có 1 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (2,5x3)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. Ngoài ra, còn thu giữ của H: 01 điện thoại di động Iphone màu vàng cùng sim 0388.110.599; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen, biển kiểm soát (BKS) 14Y1-235.94.
Tại bản Kết luận giám định số 1830/KLGĐ ngày 27/9/2021 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy Methamphetamine, khối lượng là 0,201 gam.
Cáo trạng số 124/CT-VKSUB ngày 16/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại cơ quan điều tra:
Bị cáo Lê Xuân H khai nhận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 22/9/2021, H đang ở nhà tại tổ 16A, khu 5A, phường Q, thành phố Uông Bí thì nhận được điện thoại của C (H chỉ biết nhà ở phường P, thành phố Uông Bí) nói “bạn đang ở đâu, ra cổng chợ T tôi đưa đồ cho” (H hiểu ý C có ma túy “đá” bán cho H để sử dụng), H đồng ý và bảo với C sẽ mua 300.000 đồng ma túy “đá”. Khoảng 13 giờ cùng ngày, H điện thoại cho C rồi điều khiển xe mô tô BKS 14Y1-235.94 mang theo 300.000 đồng đến khu vực cổng phụ chợ T. Khi đến nơi, C dẫn H vào 1 ngõ nhỏ gần đó, đi được khoảng 20m thì C dừng lại, H đưa cho C 300.000 đồng, C đưa lại cho H 1 gói giấy bạc màu vàng, bên trong có 1 túi nilon màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng. Tin tưởng bên trong có ma túy cần mua, H cầm ở bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi về. Khi đi ra đầu ngõ thì bị lực lượng công an kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ túi ma túy như nội dung Cáo trạng đã nêu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Đức T trình bày: Chiếc xe máy Sirius màu đen, biển kiểm soát (BKS) 14Y1-235.94 là của ông mua từ năm 2018, ngày 22/9/2021 khi ông đang ở nhà thì bị cáo H hỏi mượn xe đi có việc, bản thân ông không biết việc H mượn xe máy của mình để đi mua ma túy về sử dụng, đến nay ông T đã được cơ quan điều tra trả lại tài sản và không có ý kiến gì.
Những người làm chứng anh Đoàn Thanh C, anh Vũ Văn H đều đã có lời khai thể hiện trong hồ sơ phù hợp nội dung vụ án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố như bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt:
Bị cáo Lê Xuân H mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 22/9/2021.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng của vụ án:
Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 1830/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, bên trong chứa ma túy hoàn lại sau giám định.
- Tịch thu, sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, màu vàng, đã cũ.
- Tịch thu, tiêu hủy 01 sim điện thoại số 0388.110.599.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định tố tụng: Những chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Uông Bí, của Điều tra viên, của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo.
Về tội danh và hình phạt:
Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của những người làm chứng và phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ của vụ án, kết luận giám định cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 10 phút ngày 22/9/2021, tại khu vực tổ 2, khu 11, phường T, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, Lê Xuân H có hành vi tàng trữ trái phép 0,201 gam ma túy Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị lực lượng công an phát hiện, bắt quả tang.
Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện lỗi cố ý, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh truy tố là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
Về hình phạt:
Về hình phạt chính: Xét về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác trong cộng đồng, gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó, cần phải có hình phạt phù hợp và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo cũng như để tăng cường phòng ngừa tội phạm chung.
* Tình tiết tăng nặng: Không có.
*Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tài sản, không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 chiếc xe mô tô Yamaha Sirius màu đen, biển kiểm soát (BKS) 14Y1-235.94, quá trình điều tra xác định là của ông Lê Đức T (bố của bị cáo Lê Xuân H), ông T không biết việc bị cáo H sử dụng xe đi mua ma túy, cơ quan điều tra đã trả lại cho ông T nên không đề cập xử lý.
- 01 phong bì niêm phong số 1830/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh, bên trong chứa ma túy hoàn lại sau giám định thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, màu vàng, đã cũ bị cáo sử dụng liên lạc để mua ma túy, do đó cần tịch thu, sung ngân sách Nhà nước.
- 01 sim điện thoại số 0388.110.599 không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
Những tình tiết khác trong vụ án:
Đối với người đàn ông tên C đã bán ma túy cho H, quá trình điều tra xác định tên đầy đủ là Nguyễn Đức C, trú tại tổ 2, khu A, phường P, thành phố Uông Bí, tuy nhiên qua tiến hành xác minh nhiều lần nhưng C đều không có mặt tại địa phương nên cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau, HĐXX không đề cập xử lý trong vụ án.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân H 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 22/9/2021.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng: điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 1830/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh.
- Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, màu vàng, đã cũ.
- Tịch thu, tiêu hủy 01 sim điện thoại số 0388.110.599.
(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng được mô tả tại Biên bản giao nhận vật ngày 17 tháng 11 năm 2021 giữa Công an thành phố Uông Bí và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh).
3. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23, danh mục án phí Toà án của Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Lê Xuân H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND TP. Uông Bí; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - Cơ quan điều tra Công an TP Uông Bí; - Cơ quan THAHS Công an TP Uông Bí; - Nhà tạm giữ - Công an TP Uông Bí; - Chi cục THADS TP. Uông Bí; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh. - Lưu hồ sơ, VP./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vi Thanh Hà |