vanban.org

Bản án 120/2021/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 29/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 120/2021/HS-ST Tuyên án 29/07/2021
Phúc thẩm Bản án 22/2022/HSPT-QĐ Tuyên án 06/04/2022
Phúc thẩm Bản án 31/2022/HSPT-QĐ Tuyên án 23/04/2022
Phúc thẩm Bản án 38/2022/HSPT-QĐ Tuyên án 25/05/2022
Phúc thẩm Bản án 37/2022/HSPT-QĐ Tuyên án 25/05/2022
Phúc thẩm Bản án 39/2022/HSPT-QĐ Tuyên án 25/05/2022

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Quốc M và đồng phạm tổ chức đánh bạc, đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 120/2021/HS-ST
Ngày 29/07/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa Pên tòa: Ông Trần Quốc Cường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồ Cảnh.

Bà Nguyễn Thị Ngân.

- Thư ký Pên tòa: Ông Lê Viết Ngọc – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia Pên tòa: Ông Trần Nhật Ánh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 23/7/2021 và 29/7/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2021/TLST-HS ngày 15/3/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2021/QĐXXST-HS ngày 08/7/2021, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đặng Quốc M; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 24/4/1987, tại huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký NKTT: khu phố cư xá mới, thị trấn Kiên Lương, huyện Kiên Lương, Kiên Giang; Nơi ở: TTT, huyện Tân Kỳ, Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Đặng Quốc H (đã chết), con bà: Trần Thị T, sinh năm 1950; Anh chị em ruột: có 4 người, bị cáo là con thứ 3; Vợ: Võ Thị Q, sinh năm 1990; Con: có 02 người: (đều sinh năm 2020).

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Nghệ An từ ngày 03/8/2020 đến ngày 16/11/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

2. Họ và tên: Nguyễn Quốc P; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 13 tháng 02 năm 1987 tại huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký NKTT và nơi ở hiện tại: xóm K, xã K, Tân Kỳ, Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1952; con bà: Nguyễn Thị B, sinh năm 1954; Anh chị em ruột: có 5 người, bị cáo là con thứ 5; Vợ: Tăng Thị L sinh năm 1992. Con: có 02 người, con thứ nhất sinh năm 2012, con thứ 2 sinh năm 2013;

Tiền án: Ngày 16/01/2020, bị TAND huyện Tân Kỳ xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về Tội đánh bạc.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 04/10/2012, bị công an huyện Tân Kỳ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc. Thi hành xong ngày 18/10/2012.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Nghệ An từ ngày 03/8/2020 đến nay. Có mặt.

3. Họ và tên: Nguyễn S; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 19/12/1984 tại huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký NKTT và nơi ở hiện tại: khối 3, TTT, huyện Tân Kỳ, Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; đảng phái: đảng viên (đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng; Trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: cán bộ; con ông: Nguyễn Sỹ V (đã chết); con bà: Lê Thị N, sinh năm 1959; Anh chị em ruột: có 02 người, bị cáo là con đầu; Vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1984. Con: có 03 người: con thứ nhất sinh năm 2011, con thứ 3 sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ tại Trại tạm giam công an tỉnh Nghệ An từ ngày 03/8/2020 đến ngày 12/8/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

4. Họ và tên: Hoàng VN; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 08/4/1968 tại huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An; Nơi đăng ký NKTT và nơi ở hiện tại: xóm 10, xã Sơn H, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/10; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông: Hoàng Đình Y (đã chết), con bà: Nguyễn Thị T (đã chết); Anh chị em ruột: có 07 người, bị cáo là con thứ 6. Vợ: Trần Thị T, sinh năm 1970; Con: có 04 người: con thứ nhất sinh năm 1991, con thứ 4 sinh năm 2004.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 13/12/2017, bị Công an huyện Quỳnh Lưu xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Kinh doanh hàng hóa nhập lậu. Đã thi hành ngày 13/12/2017.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An từ ngày 03/8/2020 đến ngày 12/8/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Ngày 02/11/2020, bị Công an huyện Tân kỳ bắt tạm giam, đến ngày 22/12/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

5. Họ và tên: Phạm Xuân T; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 26/7/1987 tại huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký NKTT và nơi ở hiện tại: xóm 12, xã Sơn H, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh, Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: giáo viên; con ông: Phạm Xuân L, sinh năm 1949, con bà: Trần Thị K, sinh năm 1951. Anh chị em ruột: có 03 người, bị cáo là con thứ 3; Vợ: Trần Thị D, sinh năm 1987; Con: có 03 người: con thứ nhất sinh năm 2013, con thứ 3 sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An từ ngày 03/8/2020 đến ngày 12/8/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

6. Họ và tên: Trần Đình T; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 22 tháng 12 năm 1967 tại huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký NKTT và nơi ở hiện tại: khối 3, TTT, huyện Tân Kỳ, tỉnh, Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/10; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Trần Đình P (đã chết), con bà: Trần Thị V, sinh năm 1931; Anh chị em ruột: có 09 người, bị cáo là con thứ 6; Vợ: Lê Thị Minh T, sinh năm 1973. Con: có 02 người, con thứ nhất sinh năm 1993, con thứ 2 sinh năm 1995.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 20/8/2012, bị TAND huyện Nghĩa Đàn xử phạt 16 tháng cải tạo không giam giữ về Tội đánh bạc. Thi hành xong ngày 27/12/2013.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An từ ngày 03/8/2020 đến ngày 12/8/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

7. Họ và tên: Nguyễn BN; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 20/10/1982, tại thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký NKTT và nơi ở hiện tại: khối T, phường Q, thị xã Hoàng Mai, Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Nguyễn Bá N, sinh năm 1954, con bà: Nguyễn Thị X, sinh năm 1958; Anh chị em ruột: có 05 người, bị cáo là con thứ 5. Vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1985; Con: có 03 người: con thứ nhất sinh năm 2005, con thứ 3 sinh năm 2016.

Tiền án: không.

Tiền sự: Ngày 17/03/2020, Công an thị xã Hoàng Mai xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc” phạt tiền 2.000.000 đồng. Đã thi hành ngày 19/3/2020.

Nhân thân:

- Ngày 21/11/2014, Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, phạt tiền 8.000.000 đồng về "Tội đánh bạc”. Đã thi hành xong.

- Ngày 11/12/2018, bị công an thị xã Hoàng Mai xử phạt hành chính 1.000.000 đồng về hành vi đánh nhau. Đã thi hành xong ngày 13/12/2018.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An từ ngày 03/8/2020, đến ngày 30/12/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

8. Họ và tên: Hồ Sỹ T; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 25/11/1982 tại Hoàng Mai, Nghệ An; Nơi đăng ký NKTT và nơi ở hiện tại: xóm 11, xã Q, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Hồ Sỹ T, sinh năm 1956, con bà: Nguyễn Thị B, sinh năm 1961. Anh chị em ruột: có 04 người, bị cáo là con thứ nhất. Vợ: Trần Thanh N, sinh năm 1984; Con: có 04 người: con thứ nhất sinh năm 2007, con thứ 4 sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An từ ngày 03/8/2020 đến ngày 12/8/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

9. Họ và tên: Nguyễn Đình D; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 16/6/1976 tại huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký NKTT và nơi ở hiện tại: Khối 3, TTT, huyện Tân Kỳ, Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Nguyễn Đình D (đã chết); con bà: Lương Thị X, sinh năm 1943. Anh chị em ruột: có 04 người, bị cáo là con thứ 3; Vợ: Hoàng Thị N, sinh năm 1976. Con: có 02 người: con thứ nhất sinh năm 2001, con thứ 2 sinh năm 2005.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ tại trại Tạm giam Công an tỉnh Nghệ An từ ngày 10/8/2020 đến ngày 16/8/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

10. Họ và tên: Nguyễn Văn H; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 14/4/1976 tại huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký NKTT và nơi ở hiện tại: xóm K, xã K, huyện Tân Kỳ, Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Công nhân; Con ông: Nguyễn Văn K (đã chết), con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1942; Anh chị em ruột: có 04 người, bị cáo là con thứ 4. Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1983. Con: có 02 người: con thứ nhất sinh năm 2010, con thứ 2 sinh năm 2013.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An từ ngày 10/8/2020 đến ngày 16/8/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Trần Thị T. Sinh năm 1970. Có mặt.

Nơi cư trú: xóm 10, xã S, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

Chị Võ Thị Q. Sinh năm 1990. Có mặt.

Nơi cư trú: khối 5, TTT, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại Pên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do biết nhiều người có nhu cầu đánh bạc bằng hình thức "cá độ bóng đá", Đặng Quốc M đã điện thoại liên hệ với một người tên “Thông”quê ở huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, hiện đang sinh sống tại TP. Hồ Chí Minh (là bạn học cũ của M) đang quản lý trang mạng cá độ bóng đá, đề nghị Thông cấp tài khoản tham gia cá độ cho người chơi thông qua M để M hưởng tiền tiền hoa hồng từ việc đánh bạc của người chơi.

Khoảng tháng 6 năm 2020, Đặng Quốc M đã điện thoại đề nghị Thông cấp cho M một tài khoản tổng đại lý (gọi là tài khoản Master) cá độ bóng đá trên mạng “bóng88” thì Thông đồng ý. Sau đó, một người tên là “Hưng” cũng ở huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, hiện đang sinh sống ở Thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương (là người điều hành mạng" bóng88" với Thông) gọi điện và cung cấp cho M tài khoản Master có mã “DTC4915”, tên đăng nhập Kimlong6789, mật khẩu Hhhh6789 để đăng nhập trên trang web www.bong88.com và tài khoản đại lý (gọi là tài khoản Agent) có mã tài khoản DTC491577, mật khẩu Qqqq6789. Hưng thỏa thuận với M: Hạn mức điểm tối đa trong tài khoản và tỉ lệ quy đổi điểm T giá trị tiền mặt là 10.000 đồng đến 20.000đồng/01điểm. Số tiền T/thua từ việc cá độ, M và Hưng thanh toán với nhau vào chiều thứ hai hàng tuần qua tài khoản ngân hàng.

Tài khoản tổng "Master" có thể chia T nhiều tài khoản cấp 1 (Agent) với tổng hạn mức điểm của tất cả các tài khoản Agent không vượt quá hạn mức điểm của tài khoản Master. Từ tài khoản Agent có thể chia ra các tài khoản thứ cấp khác (gọi là tài khoản Member) để giao cho những người trực tiếp cá cược. Tổng hạn mức điểm của tất cả tài khoản Member không vượt quá hạn mức điểm có trong tài khoản Agent. Tùy vào thỏa thuận với từng người đánh bạc mà các đại lý cấp hạn mức tài khoản và giá điểm khác nhau.

Các tài khoản Master DTC4915 và Agent DTC491577, M sử dụng và theo dõi điểm đặt cược, T, thua và tiền "com" (gọi là tiền hoa hồng) của người cá độ. Do không chia tách được từ tài khoản Agent T các tài khoản Member, nên khi có người có nhu cầu cá độ thì M pH gọi điện cho Hưng xin cấp tài khoản Member (từ tài khoản Master DTC4915 và Agent DTC491577) gửi cho M, để M cấp lại cho người chơi. Những người này sử dụng tài khoản Member do M cấp để trực tiếp cá cược trên trang Web. Tùy từng tài khoản Member mà thỏa thuận về hạn mức điểm, tỉ lệ quy đổi T tiền Việt Nam là khác nhau. Tiền "com" mà nhà cái tính cho mỗi tài khoản là 0,25%/ số điểm đặt cược, được quy đổi T tiền rồi tính cộng vào kết quả T, thua để thanh toán với người chơi. Tùy từng người chơi, M có thể trả số điểm com gấp 02 đến 04 lần nhà cái mặc định hoặc không tính tiền com.

Để cá độ bóng đá trên trang bóng 88, người chơi pH sử dụng tài khoản cấp Member, truy cập trình duyệt trên máy tính hoặc thiết bị di động có kết nối internet. Có nhiều địa chỉ để truy cập vào trang cá độ, người chơi có thể tìm kiếm từ khóa “bong88” trên google rồi truy cập vào một trong các địa chỉ, ví dụ: https://8887799.com, cuocbanh88.net, cuoc8899.com, 8887799.net… Tại giao diện chính của website, bấm vào mục Đăng nhập rồi điền tên truy cập và mật khẩu để đăng nhập vào trang cá độ bóng đá. Trên trang có các mục để cá cược như Thể thao, Live Casino, Number Game, RNG Keno… Góc trên bên trái hiển thị tên tài khoản, hạn mức giao dịch (điểm/ngày), số dư tài khoản, thời gian của trang (giờ server) được tính theo múi giờ GMT- 4 (tức chậm hơn giờ Hà Nội 11 tiếng - sau đây trong các kèo cá độ sẽ tính theo giờ Hà Nội), người chơi vào mục Thể thao - Bóng đá. Thông tin trận đấu và kèo cá độ các trận bóng đá sẽ hiển thị tại phần trung tâm của trang. Các trận đấu được hiển thị theo từng hàng ngang, hàng dọc hiển thị các thông tin để cá cược gồm: Thời gian của trận đấu và tỉ số hiện tại, tên trận đấu, các kèo châu Á (cược chấp), kèo Tài/Xỉu, kèo châu Âu được chia T kèo toàn trận và kèo hiệp 1. Tại mục mỗi trận đấu, đội chủ nhà được xếp ở trên, đội khách được xếp ở dưới, đội cửa trên có tên màu đỏ, đội cửa dưới có tên màu đen. Tỉ lệ cược được hiển thị tương ứng với đội bóng và kèo, khi người chơi đặt cược T công thì nhà cái sẽ trừ trực tiếp số điểm cược trong mục Số dư. Trong đó, tỉ lệ cược là số hữu tỉ dương (x) thì khi người chơi cược 1 điểm, nếu T người chơi được nhà cái trả số điểm là x trong trường hợp T toàn bộ tiền hoặc x/2 trong trường hợp T nửa tiền, nếu thua thì người chơi mất 1 điểm trong trường hợp thua toàn bộ tiền hoặc mất 0,5 điểm trong trường hợp thua nửa tiền; tỉ lệ cược là số hữu tỉ âm (-x) thì khi người chơi cược 1 điểm, nếu T người chơi được nhà cái trả 1 điểm trong trường hợp T toàn bộ tiền hoặc 0,5 điểm trong trường hợp T nửa tiền, nếu thua thì người chơi mất số điểm là x trong trường hợp thua toàn bộ tiền hoặc x/2 trong trường hợp thua nửa tiền. Khi người chơi muốn đặt cược kèo nào thì bấm vào tỉ lệ cược của kèo đó, một bảng cược nhỏ sẽ hiển thị, người chơi nhập số điểm cược vào và bấm Đặt cược – Xác nhận đặt cược (Có). Khi đặt cược được nhà cái chấp nhận thì sẽ được hiển thị ở mục Bảng cược – Đang chạy.

Về các kèo cá độ bóng đá, kèo châu Á (cược chấp – handicap) là kèo đặt cược vào đội bóng và so sánh số bàn T của đội cửa trên so với đội cửa dưới sau khi đã cộng số bàn chấp cho đội cửa dưới, trong đó: đội cửa trên chấp đội cửa dưới số bàn T do nhà cái đưa ra (ví dụ 0,25; 0,5; 0,75; 1…). Khi so sánh số bàn T sẽ xảy ra những trường hợp sau: Số bàn T bằng nhau thì người chơi dù đặt cược cho đội nào cũng hòa tiền; số bàn T chênh nhau 0,25 thì đặt cược đội có số bàn T cao hơn ăn nửa tiền, đặt cược đội có số bàn T thấp hơn thua nửa tiền; số bàn T chênh nhau 0,5 trở lên thì đặt cược đội có số bàn T cao hơn ăn đủ tiền, đặt cược đội có số bàn T thấp hơn thua đủ tiền. Trong kèo châu Á, nhà cái so sánh số bàn T của hai đội tính từ lúc người chơi đặt cược (nghĩa là khi người chơi đặt cược thì số bàn T được tính là 0-0, bất kể tỉ số của trận đấu lúc đó là bao nhiêu).

Kèo Tài/Xỉu (Over/Under) là kèo tổng số bàn T của trận đấu, trong đó nhà cái đưa ra một con số tổng số bàn T và người chơi đặt cược. Tài là cược tổng số bàn T của trận đấu lớn hơn số nhà cái đưa ra. Xỉu là cược tổng số bàn T nhỏ hơn số nhà cái đưa ra. Khi có kết quả trận đấu, căn cứ kèo đặt cược của người chơi và chênh lệch giữa tổng số bàn T của trận đấu với kèo tài/xỉu đã đưa ra là 0; 0,25; hơn 0,5 bàn T mà người chơi hòa tiền, T/thua một nửa tiền cược hoặc toàn bộ tiền cược. Trong kèo tài/xỉu, tổng số bàn T được tính cả số bàn T trước khi người chơi đặt cược.

Ngoài ra, người chơi có thể cá cược các kèo như: Kèo châu Âu (1x2) là đặt cược một trong ba trường hợp T, hòa, thua của một trong hai đội; Tài/Xỉu phạt góc (O/U No. of Corners) là cược tổng số quả phạt góc của hai đội; Tỷ số trận đấu (Correct Score) là cược tỷ số khi kết thúc trận đấu; Quả phạt góc thứ n là cược đội được hưởng quả phạt góc thứ n…với cách tính tiền cược tương tự như trên. Người chơi có thể đặt cược trước hoặc trong khi trận đấu đang diễn ra. Kết thúc kèo cá cược, trong mục Sao kê của tài khoản Member hiển thị toàn bộ lịch sử và số điểm T/thua các kèo cá cược người chơi, tài khoản cấp trên theo dõi được tiền T/thua của tài khoản cấp dưới.

Hành vi tổ chức đánh bạc của Đặng Quốc M.

1. Nguyễn Quốc P và Trần Đình T: Đầu tháng 6/2020, do có nhu cầu cá độ bóng đá nên T nhờ P lấy 1 tài khoản cá độ. Biết Đặng Quốc M có trang mạng cá độ bóng đá, P đã liên hệ với M xin cấp một tài khoản. M đồng ý rồi liên hệ và được Hưng cấp tài khoản DTC491501019, mật khẩu Tttt1234 và thỏa thuận giá 01 điểm (đô) tương đương 20.000 đồng, tiền Com nhân 5, thanh toán vào thứ 2 hàng tuần. Sau đó, M cấp tài khoản cho P và thỏa thuận giá mỗi điểm cá độ là 20.000đ, hạn mức 1 ngày 400 điểm, tiền Com nhân 4 và cho P hưởng. Thanh toán vào thứ hai hàng tuần. Sau khi có tài khoản trên, P giao cho T và thỏa thuận giá 01 điểm tương đương 40.000 đồng, T không được hưởng tiền com, hạn mức một ngày 400 điểm, thanh toán tiền T, thua vào thứ 2 hàng tuần.

Từ ngày 13/6/2020 đến ngày 01/8/2020, T sử dụng máy tính có kết nối Internet truy cập vào tài khoản DTC491501019, tham gia đánh bạc 194 lần với số tiền đánh bạc 801.720.000đồng. Trong đó, số tiền T dùng để đặt cược là 607.320.000 đồng, đánh T 194.400.000 đồng, đánh thua 225.279.200 đồng. Kết quả: T thua bạc với số tiền: 225.279.200 đồng - 194.400.000 đồng = 30.879.200 đồng. Cụ thể: 141 lần đánh với số tiền đánh bạc trong mỗi lần dưới 5.000.000 đồng với tổng tang số là: 286.326.400 đồng; 53 lần đánh với số tiền đánh bạc trong mỗi lần từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng. Tổng số tiền mà Trần Đình T pH chịu trách nhiệm Hình sự là: 801.720.000 đồng - 286.326.400 đồng = 515.393.600 đồng. Số tiền mà T pH thanh toán cho P là 30.879.000 đồng. T đã trả cho P 18.143.400 đồng. P thanh toán cho M số tiền 9.071.700 đồng và M đã thanh toán hết cho Hưng. Trong hành vi đánh bạc của T thì M được Hưng thanh toán số tiền com là 3.225.000 đồng. M chia cho P 2.580.000 đồng, M hưởng 645.000 đồng. P thu lợi bất chính số tiền: (18.143.400 đồng - 9.071.700 đồng + 2.580.000 đồng) = 11.651.700đ.

2. Nguyễn S: Quá trình sinh sống tại địa phương, An biết M có trang mạng cá độ bóng đá, nên khoảng đầu tháng 6/2020, An gọi điện cho M hỏi về việc cung cấp tài khoản cá độ, M đồng ý rồi liên hệ và được Hưng cung cấp tài khoản tài khoản DTC491577004, mật khẩu Qqqq1234. Sau đó, M cung cấp tài khoản trên để An cá độ trên trang https://8887799.com. M và An thỏa thuận giá mỗi điểm là 10.000 đồng, hạn mức 01 ngày là 1000 điểm, tương đương 10.000.000 đồng, không có tiền com.

Từ ngày 13/6/2020 đến ngày 26/6/2020, An sử dụng điện thoại nhãn hiệu ViVo kết nối Internet truy cập vào tài khoản DTC491577004, tham gia cá cược 64 lần với số tiền đánh bạc là 723.822.900 đồng. Trong đó, số tiền An dùng để đặt cược là 553.540.000 đồng, đánh T 170.282.900 đồng, đánh thua 243.039.900 đồng. Kết quả, An thua 72.757.000 đồng. Số tiền nay An chưa thanh toán cho M.

Cụ thể: 01 lần đánh bạc với số tiền trên 50.000.000 đồng, ngày 13/6/2020, trận đấu Istanbul Basaksehir - vs - Alanyaspor tại giải TURKEY SUPER LEAGUE, An đánh 05 kèo, với số tiền đánh bạc là 56.640.000 đồng; 47 lần đánh bạc với số tiền đánh bạc trong mỗi lần từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, trong đó có 08 trận có tang số từ 20.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng; 16 lần đánh bạc có tang số dưới 5.000.000/ 01 trận với tổng tang số là 51.505.900 đồng. Tổng số tiền Nguyễn S pH chịu trách nhiệm Hình sự là: 723.822.900 đồng - 51.505.500 đồng = 672.317.400 đồng.

3. Hoàng VN và Phạm Xuân T: Phạm Xuân T là thầy giáo dạy con gái của Nhân. Khoảng đầu tháng 6/2020, do có nhu cầu đánh bạc nên Nhân nhờ T lấy hộ 1 tài khoản cá độ bóng đá với hạn mức 10.000.000 đồng. Do là bạn học với M và biết M đang làm mạng cá độ, nên T liên hệ với M để xin cấp tài khoản cá độ cho Nhân. M đồng ý rồi liên hệ với Hưng và được Hưng cấp tài khoản DTC491577007, kèm mật khẩu, thỏa thuận giá 01 điểm (đô) tương đương 10.000 đồng, thanh toán vào thứ 2 hàng tuần. Sau đó, M gửi tài khoản cho Nhân thông qua T, thỏa thuận giá mỗi điểm cá độ là 50.000 đồng, hạn mức 1 ngày 200 điểm, không có tiền com. T giao tài khoản này cho Nhân để Nhân đánh bạc.

Từ ngày 13/6/2020 đến ngày 8/7/2020, Nhân sử dụng điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 Plus, kết nối Internet truy cập vào tài khoản DTC491577007, tham gia đánh bạc 160 trận với số tiền đánh bạc là 979.674.500 đồng. Trong đó, số tiền Nhân dùng để đặt cược là 697.950.000 đồng, đánh T 281.724.500 đồng, đánh thua 275.276.500 đồng.

Cụ thể: 96 lần đánh với số tiền đánh bạc mỗi lần dưới 5.000.000 đồng, với tổng tang số là 253.430.000 đồng; 57 lần đánh với số tiền đánh bạc trong mỗi lần từ 5.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng; 07 lần đánh với số tiền đánh bạc trong mỗi lần từ 20.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng. Tổng số tiền mà Hoàng VN pH chịu trách nhiệm Hình sự là: 979.674.500 - 253.430.000 = 726.244.500 đồng.

Số tiền Nhân T bạc và được M thanh toán (thông qua T) là 6.448.000 đồng. T đã chuyển lại toàn bộ cho Nhân. Nhân thu lợi bất chính 6.448.000 đồng.

Phạm Xuân T đồng phạm với Nhân với vai trò giúp sức, lấy tài khoản đánh bạc và làm trung gian thanh toán tiền giữa M và Nhân, không hưởng lợi bất chính.

Trong hành vi tổ chức cho Trần Đình T, Nguyễn S, Hoàng VN và Phạm Xuân T đánh bạc, tổng số tiền Đặng Quốc M pH chịu trách nhiệm hình sự là: 801.720.000 + 723.822.900 + 979.674.500 = 2.505.217.400 đồng (Hai tỷ năm trăm linh năm triệu hai trăm mười bảy nghìn bốn trăm). Nguyễn Quốc P có tiền án về tội đánh bạc nên pH chịu trách nhiệm Hình sự với vai trò đồng phạm giúp sức cho Đặng Quốc M với số tiền 801.720.000 đồng mà Trần Đình T đánh bạc.

Hành vi đánh bạc của Nguyễn BN, Hồ Sỹ T trong đường dây đánh bạc có tài khoản Master DTC4915.

1. Thông qua một đối tượng tên là Nguyễn Bá Quyền, Nguyễn BN được Quyền cấp cho 02 tài khoản Member có mã DTC491500000 và DTC491500001 từ tài khoản Agent có mã DTC491500, thỏa thuận giá điểm 30.000 đồng, tiền com nhân 4, thanh toán tiền T - thua vào thứ hai hàng tuần. Nhân đã đưa tài khoản DTC491500001 cho cho Hồ Sỹ T, để T đánh bạc. Nguyễn BN và T thỏa thuận: giá 01 điểm là 50.000 đồng, tiền com nhân 4, tài khoản còn lại Nhân giữ để sử dụng đánh bạc.

Từ ngày 18/6/2020 đến ngày 23/6/2020, Nhân sử dụng điện thoại OPPO F9 kết nối Internet truy cập vào tài khoản DTC491500000, tham gia đánh bạc 04 lần với số tiền đánh bạc là 4.750.800 đồng, (Không có trận nào có tang số từ 5.000.000 đồng trở lên) Trong đó, số tiền đặt cược 4.500.000 đồng, đánh T 240.000 đồng, đánh thua 2.724.000 đồng, tiền com được hưởng 43.200 đồng. Kết quả, Nhân thua bạc với số tiền 2.440.800 đồng và đã thanh toán hết Quyền số tiền 2.440.800 đồng. Nhân không hưởng lợi.

2. Đối với Hồ Sỹ T, từ ngày 13/6/2020 đến ngày 01/8/2020, T sử dụng điện thoại Samsung Galaxy J3 kết nối Internet truy cập vào tài khoản DTC491500001, tham gia đánh bạc 673 lần với tổng số tiền là 673.250.000 đồng. Trong đó, số tiền cá cược là 498.200.000 đồng, đánh T 171.094.000 đồng, đánh thua 180.278.000 đồng , tiền com là 3.965.000 đồng. Trong đó: 666 lần đánh có số tiền đánh bạc trong mỗi lần dưới 5.000.000 đồng với tổng tang số là 612.167.500 đồng; 07 lần đánh có số tiền đánh bạc trong mỗi lần từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng với tổng số tiền là 51.766.500 đồng. Kết quả: T thua bạc với số tiền 5.219.000 đồng, T mới thanh toán cho Nhân số tiền 4.325.000 đồng. Nhân thanh toán cho Quyền 2.595.000 đồng. Nhân hưởng lợi bất chính 1.730.000 đồng. Tổng số tiền mà T pH chịu trách nhiệm Hình sự là: 51.766.500 đồng.

Nguyễn BN có 01 tiền sự về tội đánh bạc, nên pH chịu trách nhiệm Hình sự với tổng số tiền Nhân và T đã đánh bạc là (4.750.800 + 673.250.000) = 678.000.800 đồng.

Hành vi đánh bạc bằng hình thức chơi lô, đề của Nguyễn Quốc P, Nguyễn Đình D và Nguyễn Văn H

Khoảng tháng 02/2020, Nguyễn Quốc P biết được một số người quen trên địa bàn huyện Tân Kỳ có nhu cầu đánh số lô, đề nên nảy sinh ý định ôm số lô, đề. Sau đó, P trực tiếp gặp, hỏi Nguyễn Văn H và Nguyễn Đình D có đánh lô, đề không? nếu đánh thì P sẽ nhận ôm, H và D đồng ý. P thỏa thuận với H và D cách thức đánh số lô, đề, xiên và ba càng như sau:

Đánh đề: là cách chọn hai chữ số rồi đặt cược một số tiền nhất định. Căn cứ kết quả xổ số miền Bắc, nếu số đặt cược trùng với hai chữ số cuối của giải đặc biệt thì P sẽ trả gấp 70 lần số tiền đặt cược (Tỷ lệ 1/70). Đánh lô: là cách chọn hai chữ số rồi đặt cược với một số điểm nhất định. P qui ước 01 (một) điểm lô tương đương với 23.000đ (hai mươi ba nghìn đồng). Đánh lô xiên 2,3 là cách chọn tổ hợp 2,3 số lô và đặt cược mỗi lô xiên một số tiền nhất định. Nếu số lô đặt cược trùng với hai chữ số cuối của 27 giải thưởng xổ số miền Bắc thì P sẽ trả 01 (một) điểm lô tương ứng với 80.000đ (tám mươi nghìn đồng). Nếu số lô xiên 2,3 trùng tổ hợp 2,3 số lô trúng là trúng lô xiên 2, 3 thì P sẽ trả gấp 10,40 lần số tiền đặt cược. Đánh ba càng: là cách chọn tổ hợp có 3 chữ số rồi đặt cược mỗi số một số tiền nhất định. Nếu trúng 3 số cuối của giải đặc biệt kết quả xổ số miền bắc của ngày đánh thì P sẽ trả số tiền gấp 400 lần số tiền đặt cược. Nếu không trúng số đề, lô, xiên 2,3 và ba càng thì P được hưởng toàn bộ số tiền đặt cược.

Trước 18 giờ 05 phút hằng ngày, P sử dụng tài khoản zalo “P” đăng ký số điện thoại 0947571696 để nhận tin nhắn đánh số lô, đề của H và D. Căn cứ vào số tiền đánh lô, đề, ba càng đã thỏa thuận và kết quả xổ số miền Bắc ngày hôm đó, P tính tiền T/thua, nhắn tin cho H, D để thanh toán với nhau.

1. Nguyễn Đình D: Từ ngày 24/4/2020 đến 15/7/2020, D sử dụng zalo “Dung Vang”, đăng ký số điện thoại 0915226599, nhắn tin đánh số lô, đề với P qua tài khoản zalo “P”, đăng ký số điện thoại “0947571696” 76 lần với tổng số tiền đánh bạc là 560.965.000 đồng, gồm: tiền đánh đề, lô, xiên, ba càng là 284.165.000 đồng.Trong đó: đánh đề là 4.310.000 đồng, đánh lô là 266.455.000 đồng, đánh xiên là 12.620.000 đồng, đánh ba càng là 780.000 đồng. Số tiền T bạc là 276.800.000 đồng. D thua P: (286.165.000 - 276.800.000) = 7.365.000 đồng và đã thanh toán hết, nên P thu lợi bất chính là 7.365.000 đồng. (1).

Cụ thể: 39 lần đánh với số tiền đánh bạc trong mỗi lần dưới 5.000.000đ với tổng tang số (tổng tiền đánh + tổng tiền T bạc) là 119.045.000 đồng; 32 lần đánh với số tiền đánh bạc trong mỗi lần từ 5.000.000 đến dưới 20.000.000đ với tổng số tiền là 319.920.000 đồng; 05 lần đánh bạc với số tiền đánh bạc trong mỗi lần từ 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) trở lên với tổng số tiền là 122.000.000 đồng. Tổng số tiền D pH chịu trách nhiệm Hình sự là: 560.965.000 đồng - 119.045.000 đồng = 441.920.000 đồng.

2. Nguyễn Văn H: Từ ngày 28/7/2020 đến 02/8/2020, Nguyễn Văn H sử dụng zalo “Lien Co Haj”, đăng ký số điện thoại 0968145337, nhắn tin đánh số lô, đề với Nguyễn Quốc P qua tài khoản zalo “P”, đăng ký số điện thoại “0947571696” 06 lần với tổng số tiền đánh bạc là 20.440.000 đồng, gồm: đánh lô, đề, xiên, ba càng là 7.040,000 đồng, trong đó: tiền đánh số đề là 1.450.000 đồng, tiền đánh số lô là 5.060.000 đồng, tiền đánh xiên là 350.000 đồng, tiền đánh ba càng là 180.000 đồng. Số tiền T bạc là 13.400.000 đồng.

Cụ thể: 04 lần đánh với số tiền đánh bạc trong một ngày dưới 5.000.000 đồng với tổng số tiền 8.590.000 đồng; 02 lần đánh bạc với số tiền đánh bạc trong mỗi ngày từ 5.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng với tổng số tiền là 11.850.000 đồng. Số tiền H pH chịu trách nhiệm Hình sự là 11.850.000 đồng.

Số tiền H T P là 6.360.000 đồng. P đã thanh toán cho H 5.700.000 đồng (2). Do đó, H thu lợi bất chính 5.700.000 đồng.

Trong hai hành vi nêu trên, P thu lợi bất chính: (1) - (2) = 1.665.000 đồng.

Hành vi đánh bạc của Nguyễn Quốc P và Nguyễn Ngọc Công T: Nguyễn Quốc P quen biết với Nguyễn Ngọc Công T (sinh ngày 31/12/1984, trú tại khối 3, thị trấn Tân Kỳ, huyện Tân Kỳ), P biết T là người ôm số lô, đề và bản thân mình có nhu cầu chơi nên đã gặp trực tiếp, hỏi T có nhận đánh số lô, đề không? T đồng ý và thỏa thuận với P cách thức đánh số lô, đề, xiên và ba càng như cách đánh với Nguyễn Văn H và Nguyễn Đình D. Trước 18 giờ 05 hằng ngày, T sử dụng số điện thoại 0886767000 nhận tin nhắn đánh số lô, đề của P. Căn cứ vào giá đánh lô đề đã thỏa thuận và kết quả xổ số miền Bắc ngày hôm đó, T tính tiền T/thua rồi nhắn tin cho P để thanh toán với nhau. Ngày 02/8/2020, P sử dụng điện thoại Iphone 6s chứa sim số 0947571696 nhắn tin đánh số lô, đề với T qua số điện thoại 0886767000 với tổng số điểm lô là 700 điểm tương đương 16.100.000 đồng, số tiền đánh đề là 1.700.000 đồng, số tiền đánh xiên là 2.000.000 đồng. Tổng số tiền mà P đánh bạc với Nguyễn Ngọc Công T trong ngày 02/8/2020 là 19.800.000 đồng.

Kết quả: P thua bạc với tổng số tiền là 19.800.000đ (mười chín triệu, tám trăm nghìn đồng). P chưa thanh toán cho T.

Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ một số vật chứng, gồm:

Thu giữ của Đặng Quốc M: 01 (một) thẻ ngân hàng BIDV màu vàng, số 9704180050410968; 01(một) thẻ ngân hàng Đông Á; 01 (một) thẻ ngân hàng Agribank; 01 simVinaphone; 04(bốn) cuống thẻ sim Vinaphone; 01(một) cuống thẻ sim Viettel; 01 (một) sổ tay nhãn hiệu Notebook; 01 (một) điện thoại Nokia 105 màu đen; 01 (một) điện thoại Iphone 7 Plus màu vàng; 01 (một) điện thoại SAMSUNG Galaxy A20s màu đen; 01 (một) điện thoại hiệu NOKIA 8800 màu nâu và 150.000.000 đồng. Thu giữ của Nguyễn Quốc P: 01 điện thoại hiệu Iphone 6S, màu vàng. Thu giữ của Nguyễn BN: 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO F9, màu đen. Thu giữ của Nguyễn S: 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màu đen. Thu giữ của Trần Đình T: 01 điện thoại hiệu Iphone 6S Plus, màu xám; 01 máy tính xách tay, hiệu Dell, màu đen; 01 chuột máy tính hiệu Fuhlen, màu đen; 01(một) dây xạc máy tính. Thu giữ của Phạm Xuân T: 01 điện thoại di động hiệu SONY XperiaXA1 màu đen. Thu giữ của Hoàng VN: 01 điện thoại hiệu Iphone 7 Plus màu đen; 01 điện thoại hiệu OPPO F3 màu hồng; 01 (một) điện thoại hiệu NOKIA150 màu đen và 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng).Thu giữ của Hồ Sỹ T: 01 điện thoại hiệu Samsung galaxy J3 màu vàng đồng. Thu giữ của Nguyễn Văn H: 01 điện thoại di động hiệu OPPO X6A37F màu vàng. Thu giữ của Nguyễn Đình D: 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG Galaxy A7 màu vàng.

Sau khi kiểm tra các dữ liệu, thông tin trên điện thoại, máy tính, kiểm tra các vật chứng thu giữ, Cơ quan điều tra đã trả lại một số vật chứng không liên quan, cụ thể:

Trả cho Đặng Quốc M: 01 thẻ ngân hàng BIDV màu vàng, 01 thẻ ngân hàng Đông Á màu đen; 01 thẻ ngân hàng Agribank màu xanh; 01 sim Vinaphone có số seri ...2778; 02 cuống thẻ sim Vinaphone; 01 cuống thẻ sim Viettel có số seri...29004; 01 cuống thẻ sim Vinaphone có số seri...460390; 01 cuống thẻ, sim Vinaphone có số seri...71080; 01 sổ tay nhãn hiệu Notebook; 01 điện thoại Nokia 105 màu đen, số IMEI1 ...461000, lắp sim thuê bao 0948899028; 01 điện thoại hiệu NOKIA 8800 màu nâu, số IMEI1...27283chứa số thuê bao 0846037051; Trả cho Nguyễn S: 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màu đen, có số IMEI1...94192, số IMEI2...94184 lắp sim thuê bao 0819383777. Trả cho Hoàng VN: 01 điện thoại hiệu OPPO F3 màu hồng, màn hình màu trắng, đã bị vỡ, số IMEI1...302490, số IMEI2 ...302482, không lắp sim; 01 điện thoại NOKIA 150 màu đen, số IMEI1...03171,IMEI2...03170, lắp sim thuê bao 0976966114, 0964979238. (BL 1650-1654).

Tại bản Cáo trạng số: 53/CT-VKS-P2, ngày 08/3/2021, của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã truy tố các bị cáo, cụ thể như sau: truy tố Đặng Quốc M về "Tội tổ chức đánh bạc", theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự; truy tố Nguyễn Quốc P về tội "Tội tổ chức đánh bạc", theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 322 và "Tội đánh bạc", theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự ; truy tố Nguyễn S về "Tội đánh bạc” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; truy tố Trần Đình T, Hồ Sỹ T, Hoàng VN, Phạm Xuân T và Nguyễn BN về "Tội đánh bạc", theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; truy tố Nguyễn Đình D và Nguyễn Văn H về "Tội đánh bạc", theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại Pên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, số tiền đánh bạc như nội dung bản cáo trạng truy tố.

Bị cáo Nguyễn BN khai rằng, các tài khoản Member là có Nguyễn Bá Quyền đưa cho bị cáo, không pH là do bị cáo nhận được tài khoản đại lý (tài khoản Agent) sau đó chia T các tài khoản Member và đưa cho Hồ Sỹ T như cáo trạng truy tố, vì bị cáo không biết cách chia. Tại Pên tòa cũng đã làm rõ, Kiểm sát viên cũng đã thay đổi nội dung truy tố này, xác định Nguyễn BN không thực hiện việc trực tiếp chia T các tài khoản Member.

Bị cáo Hoàng VN khai, bị cáo chưa từng bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi Kinh doanh hàng hóa nhập lậu và không nộp số tiền xử phạt 800.000 đồng như tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra. Trong thời gian kéo dài nghị án, Kiểm sát viên đã tiến hành xác minh tại Công an huyện Quỳnh Lưu về việc xử lý hành chính đối với Hoàng VN, bị cáo cũng xác nhận việc có thực hiện hành vi vi phạm và ký vào biên bản vi phạm hành chính. Về số tiền 30.000.000 đồng thu giữ tại nhà bị cáo, bị cáo và chị Trần Thị Thảo (vợ bị cáo) khai là tiền của vợ chồng không liên quan đến việc đánh bạc của bị cáo, đề nghị trả lại cho vợ chồng bị cáo.

Bị cáo Phạm Xuân T khai rằng, cái điện thoại của bị cáo bị thu giữ là bị cáo mới mua sau này, khi hành vi đánh bạc của Hoàng VN đã kết thúc, không liên quan đến vụ án này, bị cáo xuất trình hóa đơn mua bán chiếc điện thoại, đề nghị xem xét trả lại cho bị cáo.

Bị cáo Đặng Quốc M khai chiếc điện thoại SamSung Galaxy A20s màu đen bị cáo không sử dụng trong việc đánh bạc, đề nghị trả lại cho bị cáo. Về số tiền 150.000.000 đồng bị cáo và vợ bị cáo là chị Võ Thị Quỳnh đề nghị trả lại cho bị cáo và gia đình vì số tiền này là tiền vay để trả ngân hàng, không liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo Đặng Quốc M.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên cáo trạng và phát biểu quan điểm: kết quả điều tra và thẩm tra tại Pên tòa có đủ căn cứ kết luận việc truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản như cáo trạng là có cơ sở. Lời khai của các bị cáo tại Pên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và các chứng cứ đã thu thập là: các công cụ phương tiện phạm tội như máy tính, các điện thoại di động; sao kê tài khoản phản ánh từng trận cá độ bóng đá các kèo và số tiền đặt cược, kết quả T - thua được hệ thống máy tính tính toán của các trận đấu trong nước cũng như thế giới mà các bị cáo cá cược đối với nhóm cá độ bóng đá; các tin nhắn SMS, Zalo lưu giữ các con số, số tiền đánh bạc; kết quả xổ số Miền Bắc do cơ quan có thẩm quyền cung cấp đối với nhóm đánh bạc bằng hình thức lô đề.

Số tiền là tang số để xác định truy tố các bị cáo là rất lớn, nhưng tiền này được quy đổi từ số điểm các đối tượng cá cược mà có chứ không pH là số tiền thực tế các đối tượng bỏ ra để đánh bạc (đối với hình thức cá độ) và tiền ghi nợ chưa được thanh toán (trong ghi lô đề). Mặt khác, số tiền T, thua trong mỗi trận cá cược chưa được thanh toán hết, nên số tiền thu lợi bất chính mà các đối tượng được hưởng là rất ít. Do đó, cần phân hóa để xem xét trách nhiệm hình sự và truy thu tiền do phạm tội mà có cho phù hợp với bản chất vụ án. Xác định, Nguyễn Quốc P có vai trò nặng nhất vì trực tiếp tổ chức đánh bạc trong hành vi chơi lô, đề. Giúp sức cho Đặng Quốc M trong hành vi tổ chức đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá và trực tiếp đánh bạc bằng hình thức chơi lô, đề với Nguyễn Ngọc công T. Đặng Quốc M có vai trò thứ 2. Tiếp đến là: Nguyễn S, Trần Đình T, Hoàng VN, Phạm Xuân T, Nguyễn BN, Hồ Sỹ T. Cuối cùng là Nguyễn Đình D và Nguyễn Văn H. Về tình tiết tăng nặng: Nguyễn Quốc P phạm tội thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; các bị cáo đều thực hiện hành vi phạm tội từ 2 lần trở lên, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều T khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nguyễn Quốc P, Nguyễn S, Phạm Xuân T, Hồ Sỹ T, Nguyễn Văn H và Nguyễn BN sau khi phạm tội đã đầu thú. Nguyễn BN, Trần Đình T, Đặng Quốc M, Nguyễn Quốc P, Nguyễn S, Phạm Xuân T và Hồ Sỹ T, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc cung cấp thông tin để phục vụ công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS. Phạm Xuân T có T tích xuất sắc trong công tác nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điềm v khoản 1 Điều 51 BLHS. Nguyễn BN cứu người gặp tai nạn giao thông, Hồ Sỹ T cứu người chết đuối, Nguyễn Đình D và Nguyễn Văn H tích cực hưởng ứng phòng trào xây dựng nông thôn mới, hiến đất cho địa phương làm đường giao thông nông thôn. Trần Đình T có bố được Nhà nước tặng thưởng Huân chương. Đặng Quốc M có bố đẻ, mẹ đẻ là thương binh và được tặng thưởng Huy chương, có bố được UBND tỉnh Nghệ An tặng bằng khen về T tích tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, gia đình gặp nhiều khó khăn (Vợ đang điều trị dài ngày tại bệnh viện tâm thần Nghệ An). Nguyễn Quốc P có bố đẻ là thương binh. Nguyễn S có bố được tặng huy chương. Nguyễn Đình D có bố đẻ được tặng Huân chương, có chú ruột là Liệt sỹ. Nguyễn Văn H có bố được tặng thường huân chương kháng chiến nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm hình sự: Đối với Nguyễn Quốc P: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 322, (cho 02 hành vi tổ chức đánh bạc); khoản 1 Điều 321; điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 BLHS; Xử phạt từ 3 năm đến 3 năm 6 tháng tù, về Tội tổ chức đánh bạc; xử phạt từ 9 tháng đến 12 tháng tù về Tội đánh bạc. Áp dụng Điều 55 BLHS về tổng hợp hình phạt của nhiều tội: Buộc P pH chịu hình phạt từ 3 năm 9 tháng đến 4 năm 6 tháng tù. Áp dụng Điều 56 BLHS về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án (Án treo 6 tháng) T 4 năm 3 tháng đến 5 năm tù. Đặng Quốc M: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 322 BLHS, điểm g khoản 1 Điều 52, các điểm s, t khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 (Bố mẹ có huân chương, thương binh, vợ đang điều trị tâm thần) Điều 54 BLHS; xử phạt từ 2 năm 6 tháng đến 3 năm tù. Nguyễn S: Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 54 BLHS, xử phạt từ 2 năm đến 2 năm 6 tháng tù. Trần Đình T: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 54 BLHS, xử phạt từ 1 năm 6 tháng đến 2 năm tù. Hoàng VN: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt từ 2 năm đến 2 năm 6 tháng tù. Phạm Xuân T: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s, t, v khoản 1 Điều 51, Điều 54 và Điều 65 BLHS, xử phạt từ 1 năm 6 tháng đến 2 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng. Nguyễn BN: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321; điểm g khoản Điều 52, điểm s, t khoản 1 Điều 51 và Điều 54 BLHS, xử phạt từ 1 năm 6 tháng đến 2 năm tù. Hồ Sỹ T: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s, t khoản 1 Điều 51 và Điều 54 BLHS, xử phạt từ 18 tháng đến 21 tháng tù. Nguyễn Đình D: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS, xử phạt từ 9 tháng đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Nguyễn Văn H: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS, xử phạt từ 6 tháng đến 9 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Đề nghị truy thu sung công tiền do phạm tội mà có đối với Nguyễn Quốc P, Hoàng VN, Nguyễn BN, Nguyễn Văn H. Đề nghị miễn áp dụng hình phạt phụ là hình phạt tiền, do các bị cáo có thu nhập không ổn định, tương đối khó khăn.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung công các điện thoại di động; 01 máy tính xách tay là công cụ, phương tiện phạm tội của các bị cáo. Trả lại cho M 02 điện thoại và 150 triệu đồng là tài sản của gia đình bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội. Trả lại cho Hoàng VN 30 triệu đồng là tài sản của gia đình bị cáo, không pH tiền do phạm tội mà có.

Các bị cáo không tranh luận, thừa nhận hành vi phạm tội, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt. Nói lời sau cùng trước khi nghị án, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, xin được giảm nhẹ hình phạt. Cụ thể: Đặng Quốc M, Nguyễn Quốc P, Nguyễn BN, Nguyễn Đình D, Phạm Xuân T xin giảm nhẹ hình phạt; Trần Đình T, Nguyễn S, Hoàng VN xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo; Hồ Sỹ T xin được hưởng án treo; Nguyễn Văn H không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại Pên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại Pên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về Quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với Hoàng VN: Căn cứ lời khai của bị cáo và kết quả xác minh, các chứng cứ thu thập được có cơ sở xác định, ngày 13/12/2017, Hoàng VN bị Công an huyện Quỳnh Lưu xử phạt vi phạm hành chính 800.000 đồng về hành vi kinh doanh hàng hóa nhập lậu. Đã thi hành ngày 13/12/2017.

Căn cứ tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo và kết quả tranh tụng tại Pên tòa có đủ cơ sở kết luận các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau:

Hành vi tổ chức đánh bạc của Đặng Quốc M.

Do biết được một số người có nhu cầu đánh bạc bằng hình thức "cá độ bóng đá" và muốn được hưởng lợi từ việc đánh bạc của những người chơi nên Đặng Quốc M đã liên lạc với một đối tượng tên là “Thông”, là người đang quản lý trang mạng cá độ bóng đá) để xin cấp một tài khoản tổng đại lý (tài khoản Master) trên mạng “bóng88”. Thông đồng ý và liên hệ với một người tên là “Hưng” (là bạn của Thông) cấp cho M tài khoản Master có mã “DTC4915”, và tài khoản đại lý (tài khoản Agent) có mã tài khoản DTC491577. Các tài khoản này M sử dụng để theo dõi điểm đặt cược, T, thua và tiền com (tiền hoa hồng) của người cá độ. Khi những người chơi đánh bạc thì M được hưởng tiền “com” (tiền hoa hồng) của người cá độ. Tiền "com" mà nhà cái tính cho mỗi tài khoản là 0,25%/ số điểm đặt cược, được quy đổi T tiền rồi tính cộng vào kết quả T, thua để thanh toán với con bạc. Tùy từng con bạc, M có thể trả số điểm com gấp 02 đến 04 lần nhà cái mặc định hoặc không tính tiền com. Sau khi có được các tài khoản nêu trên, trong khoảng thời gian từ tháng 6/2020 cho đến khi M bị bắt, Trần Đình T, Nguyễn S, Hoàng VN đã tham gia đánh bạc từ các tài khoản do Đặng Quốc M cung cấp và quản lý với số tiền 2.505.217.400 đồng.

Hành vi đánh bạc của Trần Đình T, Nguyễn S, Hoàng VN, Phạm Xuân T.

Thông qua Nguyễn Quốc P, Trần Đình T đã có được tài khoản để đánh bạc trên đường dây đánh bạc của M. Từ 13/6/2020 đến 01/8/2020,T đã đánh bạc 194 lần với tổng số tiền 801.720.000 đồng.Trong đó có 53 lần đánh bạc với số tiền mỗi lần từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, tổng số là 515.393.600 đồng. Trần Đình T pH chịu trách nhiệm hình sự về số tiền đánh bạc là: 515.393.600 đồng.

Nguyễn S đã được M cung cấp cho 01 tài khoản DTC491577004, mật khẩu Qqqq1234 để cá độ trên trang https://8887799.com. Từ ngày 13/6/2020 đến ngày 26/6/2020, An sử dụng điện thoại truy cập để đánh bạc 64 lần với tổng số tiền là 723.822.900 đồng, trong đó có 01 lần đánh bạc có số tiền trên 50.000.000đồng/1 trận, với số tiền là 56.640.000 đồng; 39 lần đánh bạc với số tiền mỗi lần từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, có 08 lần với số tiền từ 20.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, với tổng số tiền là: 672.317.400 đồng. Nguyễn S pH chịu trách nhiệm hình sự về số tiền đánh bạc là: 672.317.400 đồng với 02 tình tiết tăng nặng định khung quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Thông qua Phạm Xuân T, Hoàng VN có được tài khoản để đánh bạc trên đường dây cá độ của M, số tài khoản là DTC491577007. Từ ngày 13/6/2020 đến ngày 8/7/2020, Nhân sử dụng điện thoại truy cập vào tài khoản DTC491577007 để đánh bạc 160 lần, với số tiền 979.674.500 đồng. Trong đó, 57 lần đánh bạc với số tiền mỗi lần từ 5.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng; 07 lần đánh với số tiền đánh bạc trong mỗi lần từ 20.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, với số tiền là 726.244.500 đồng. Hoàng VN pH chịu trách nhiệm hình sự về số tiền đánh bạc là 726.244.500 đồng.

Phạm Xuân T là người quen biết cả Hoàng VN và Đặng Quốc M. Khi biết Nhân có nhu cầu đánh bạc bằng hình thức cá độ trên mạng, T đã liên hệ với M để xin tài khoản cá độ cho Nhân, nhận tiền của Nhân để chuyển cho M nộp vào tài khoản đánh bạc, làm trung gian thanh toán về số tiền được – thua giữa M và Nhân. Mặc dù bị cáo không hưởng lợi gì từ việc đánh bạc của M và Nhân, nhưng đã có hành vi giúp sức cho Hoàng VN đánh bạc. Phạm Xuân T pH chịu trách nhiệm hình sự về số tiền đánh bạc của Hoàng VN bị truy tố là 726.244.500 đồng.

Hành vi đánh bạc của Nguyễn BN và Hồ Sỹ T

Đối với Nguyễn BN, do có nhu cầu đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá trên mạng và biết Hồ Sỹ T cũng có nhu cầu, nên Nhân đã liên hệ với Nguyễn Bá Quyền để xin tài khoản đánh bạc. Từ tài khoản Agent có mã là DTC491500, Quyền đã đưa cho Nhân 2 tài khoản Member là DTC491500000 (tài khoản này Nhân dùng để trực tiếp đánh bạc) và tài khoản DTC491500001, (tài khoản này Nhân giao cho Hồ Sỹ T để T đánh bạc).

Từ ngày 13/6/2020 đến 01/8/2020, Hồ Sỹ T sử dụng điện thoại truy cập vào tài khoản DTC491500001 để đánh bạc với tổng số tiền là 673.250.000 đồng, trong đó có đánh bạc 07 lần đánh bạc với số tiền mỗi lần từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, với số tổng số tiền 51.766.500 đồng. Hồ Sỹ T pH chịu trách nhiệm hình sự về số tiền đánh bạc là 51.766.500 đồng.

Từ ngày 18/6/2020 đến ngày 23/6/2020, Nguyễn BN sử dụng điện thoại truy cập vào tài khoản DTC491500000, tham gia đánh bạc 04 lần với tổng số tiền là 4.783.200 đồng, các lần đánh bạc đều dưới 5.000.000 đồng. Tuy nhiên, ngày 17/3/2020, bị Công an thị xã Hoàng Mai xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, số tiền xử phạt 2.000.000 đồng, đã nộp tiền ngày 19/3/2020, do đó tính đến tháng 6/2020, Nguyễn BN chưa được xem là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, do đó bị cáo pH chịu trách nhiệm hình sự về tổng số tiền bị cáo trực tiếp đánh bạc là 4.783.200 đồng và tổng số tiền Hồ Sỹ T đã đánh bạc 673.250.000 đồng, tổng cộng: 678.000.800 đồng.

Hành vi đánh bạc của Nguyễn Đình D, Nguyễn Văn H

Đối với Nguyễn Đình D, từ ngày 24/4/2020 đến 15/7/2020, D đã nhắn tin thông qua tài khoản Zalo để đánh bạc bằng hình thức lô, đề với Nguyễn Quốc P 76 lần. Tổng số tiền đánh bạc giữa Nguyễn Đình D và Nguyễn Quốc P là 560.965.000 đồng, trong đó 32 lần đánh với số tiền đánh bạc trong mỗi lần từ 5.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng với tổng số tiền là 319.920.000 đồng và 05 lần đánh với số tiền đánh bạc trong mỗi lần từ 20.000.000 đồng trở lên với tổng số tiền là 122.000.000 đồng. Tổng số tiền D pH chịu trách nhiệm hình sự là: 441.920.000 đồng.

Đối với Nguyễn Văn H, từ ngày 28/7/2020 đến 02/8/2020, H đã nhắn tin thông qua tài khoản Zalo để đánh bạc bằng hình thức lô, đề với Nguyễn Quốc P 06 lần. Tổng số tiền đánh bạc giữa Nguyễn Văn H và Nguyễn Quốc P là 20.440.000 đồng, trong đó 02 lần đánh với số tiền đánh bạc trong mỗi lần từ 5.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng với tổng số tiền là 11.850.000 đồng. Số tiền H pH chịu trách nhiệm hình sự là: 11.850.000 đồng.

Hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc của Nguyễn Quốc P

Bị cáo đã nhận tài khoản từ M và chuyển cho T để nhận tiền com, đồng thời thỏa thuận với Trần Đình T về mức điểm đô trong các lần cá độ, bị cáo đã đồng phạm với Đặng Quốc M trong hành vi tổ chức đánh bạc với Trần Đình T bằng hình thức cá độ bóng đá trên mạng.

Đối với hành vi đánh bạc giữa Nguyễn Quốc P với Nguyễn Đình D và Nguyễn Văn H, xét thấy các bị cáo thỏa thuận trực tiếp đánh bạc với nhau căn cứ vào kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng hàng ngày. Mặc dù Nguyễn Quốc P có gọi điện cho D và H để lôi kéo đánh đề, nhưng đây là hành vi trực tiếp đánh bạc giữa các bị cáo, số tiền đánh bạc, con số lựa chọn và việc thanh toán các bị cáo trực tiếp thực hiện với nhau, không có hoạt động tổ chức đánh bạc. Vì vậy, trong trường hợp này, bị cáo Nguyễn Quốc P đã thực hiện hành vi đánh bạc, bị cáo phạm tội đánh bạc. Trong hành vi đánh bạc của Nguyễn Quốc P và Nguyễn Ngọc Công T, mặc dù T đã bỏ trốn, nhưng căn cứ lời khai của Nguyễn Quốc P, lời khai của những người có quen biết Nguyễn Ngọc Công T; dữ liệu kết xuất từ điện thoại của Nguyễn Quốc P, có đủ căn cứ xác định bị cáo có hành vi đánh bạc với Nguyễn Ngọc Công T, số tiền đánh bạc là 19.800.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn Quốc P đã có tiền án về tội đánh bạc, chưa được xóa án, lần phạm tội này là tái phạm, do đó bị cáo pH chịu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức đánh bạc với tổng số tiền mà Trần Đình T (801.720.000 đồng) đánh bạc; chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với tổng số tiền đánh bạc với Nguyễn Đình D (560.965.000 đồng), Nguyễn Văn H (20.440.000 đồng), Nguyễn Ngọc Công T (19.800.000 đồng), tổng cộng số tiền bị cáo pH chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc là: 601.205.000 đồng.

Từ những phân tích trên, có đủ căn cứ để xác định, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố Đặng Quốc M về "Tội tổ chức đánh bạc", theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Quốc P về tội "Tội tổ chức đánh bạc", theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 322 và "Tội đánh bạc", theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự ; Nguyễn S về "Tội đánh bạc” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; Trần Đình T, Hồ Sỹ T, Hoàng VN, Phạm Xuân T và Nguyễn BN về "Tội đánh bạc", theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Đình D và Nguyễn Văn H về "Tội đánh bạc", theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, cần xác định hành vi phạm tội của Nguyễn Quốc P như sau: Bị cáo phạm tội Tổ chức đánh bạc trong hành vi giúp sức cho Đặng Quốc M theo khoản 2 Điều 322 Bộ luật hình sự, phạm tội đánh bạc trong hành vi đánh bạc với Nguyễn Đình D, Nguyễn Văn H, Nguyễn Ngọc Công T theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Đánh giá tính chất hành vi phạm tội, vai trò từng bị cáo trong vụ án; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo:

Hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội, gây bất bình trong dư luận. Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình phạm tội. Tang số tiền xác định để xét xử các bị cáo là rất lớn, các bị cáo đều thực hiện nhiều lần hành vi phạm tội, pH chịu tình tiết tăng nặng phạm tội từ 02 lần trở lên. Vì vậy cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc tương ứng với hành vi, vai trò của từng bị cáo trong vụ án. Tuy nhiên, sau khi phạm tội các bị cáo đã T khẩn khai báo, ăn năn hối cải; mặt khác trong vụ án này, tuy tang số tiền các bị cáo đánh bạc được xác định là rất lớn, nhưng số tiền này được quy đổi từ số điểm các bị cáo cá cược và được tính lũy kế cộng dồn qua các lần đánh bạc trong suốt thời gian các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, chứ không pH là số tiền thực tế các bị cáo bỏ ra để đánh bạc. Vì vậy, cần xem xét toàn diện để quyết định hình phạt đối với các bị cáo. Cụ thể:

1. Bị cáo Đặng Quốc M là người đứng ra tổ chức đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá trong vụ án. Bị cáo đã liên hệ với Thông, Hưng để lấy tài khoản cá độ, mật khẩu cung cấp cho người chơi. Bị cáo có tài khoản quản lý để theo dõi điểm đặt cược, T, thua và tiền com (tiền hoa hồng) của người cá độ. Trực tiếp thanh toán tiền thua, T do cá độ với người chơi và người quản lý trang mạng cá độ. Khi những người chơi không thanh toán tiền thua bị cáo, bị cáo không chủ động được việc không cho họ tiếp tục chơi, nhưng có thể báo lại cho cấp Hưng, Thông để cắt quyền cá độ của tài khoản đó. Bị cáo pH chịu trách nhiệm chính trong vụ án tổ chức đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá, pH xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian.

Bị cáo có tình tiết tăng nặng phạm tội từ 2 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Quá trình điều tra bị cáo đã T khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trước đây đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc cung cấp thông tin để phục vụ công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm ma túy, được Công an huyện Kỳ Sơn xác nhận; có bố đẻ, mẹ đẻ là thương binh và được tặng thưởng Huy chương, có bố được UBND tỉnh Nghệ An tặng bằng khen về T tích tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, gia đình gặp nhiều khó khăn (Vợ đang điều trị dài ngày tại bệnh viện tâm thần Nghệ An). Trong thời gian vừa qua, bị cáo cũng đã tích cực hưởng ứng các phong trào của địa phương về ủng hộ công tác phòng, chống dịch Covid – 19, được địa phương xác nhận. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Vì vậy, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, áp dụng Điều 54 BLHS khi quyết định hình phạt.

2. Bị cáo Nguyễn Quốc P là người giúp sức cho Đặng Quốc M tổ chức đánh bạc (với Trần Đình T) trên trang mạng cá độ do Đặng Quốc M quản lý. Trong hành vi này bị cáo thực hiện với vai trò giúp sức tích cực có hưởng tiền com, thỏa thuận mức điểm đô đánh bạc với Trần Đình T. Ngoài ra bị cáo còn trực tiếp đánh bạc với Nguyễn Đình D và Nguyễn Văn H, Nguyễn Ngọc Công T bằng hình thức lô, đề. Bị cáo đã có tiền án về tội đánh bạc, đang trong thời gian thử thách án treo về tội đánh bạc nhưng vẫn tiếp tục phạm tội về đánh bạc. Bị cáo có các tình tiết tăng nặng: phạm tội từ 02 lần trở lên và tái phạm quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Vì vậy, pH xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian. Quá trình điều tra bị cáo đã T khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trước đây đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc cung cấp thông tin để phục vụ công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm ma túy, được Đồn Biên phòng Keng Đu huyện Kỳ Sơn xác nhận; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; bố đẻ bị cáo là thương binh; gia đình bị cáo cũng đã tích cực hưởng ứng phong trào xây dựng Nông thôn mới tại địa phương bằng việc hiến đất làm đường, được chính quyền địa phương xác nhận. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Vì vậy, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, áp dụng Điều 54 BLHS khi quyết định hình phạt.

3. Bị cáo Trần Đình T tham gia đánh bạc với số tiền tương đối lớn; bị cáo có nhân thân xấu, năm 2012, bị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn xử phạt 16 tháng cải tạo không giam giữ về tội đánh bạc, nay lại phạm tội đánh bạc. Bị cáo thực hiện nhiều lần hành vi đánh bạc, bị cáo pH chịu tình tiết tăng năng phạm tội từ 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ T khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trước đây đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc cung cấp thông tin để phục vụ công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm ma túy, được Công an thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa xác nhận; bố đẻ bị cáo là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huân chương. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Vì vậy, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, áp dụng Điều 54 BLHS, khi quyết định hình phạt.

4. Bị cáo Nguyễn S tham gia đánh bạc với số tiền tương đối lớn. Bị cáo phạm tội có 02 tình tiết tăng nặng định khung. Bị cáo thực hiện nhiều lần hành vi đánh bạc, do đó bị cáo pH chịu tình tiết tăng năng phạm tội từ 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian. Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú; T khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trước đây đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc cung cấp thông tin để phục vụ công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm ma túy, được Đồn Biên phòng Mỹ Lý xác nhận; bị cáo có nhân thân tốt; bố đẻ và vợ bị cáo là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huy chương; trong thời gian vừa qua, bị cáo cũng đã tích cực hưởng ứng các phong trào của địa phương về ủng hộ công tác phòng, chống dịch Covid – 19, được địa phương xác nhận. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Vì vậy xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, áp dụng Điều 54 BLHS, khi quyết định hình phạt.

5. Bị cáo Hoàng VN tham gia đánh bạc với số tiền tương đối lớn. Bị cáo thực hiện nhiều lần hành vi đánh bạc, do đó bị cáo pH chịu tình tiết tăng năng phạm tội từ 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, cần pH xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ T khẩn khai báo, ăn năn hối cải; quá trình sinh sống tại địa phương đã tham gia trong công tác giữ gìn an ninh trật tự địa phương, có công cứu giúp trẻ em bị đuối nước. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét toàn diện vụ án và vai trò các bị cáo, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Hoàng VN khi quyết định hình phạt.

6. Bị cáo Phạm Xuân T tham gia giúp sức cho Hoàng VN đánh bạc với Nguyễn Quốc M. Bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vẫn giúp sức cho Nhân, bị cáo đã liên lạc để lấy tài khoản đưa cho Nhân, nhiều lần chuyển thanh toán giữa Nhân và M, bị cáo pH chịu tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú; quá trình điều tra đã T khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trước đây đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc cung cấp thông tin để phục vụ công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm ma túy, được Công an huyện Kỳ Sơn xác nhận; bố mẹ đẻ của bị cáo là người có công với cách mạng, được tặng thưởng huân chương, huy chương, bố đẻ của bị cáo là thương binh suy giảm sức khỏe 81% được Chủ tịch UBND tỉnh Bằng khen vì T tích vượt khó trong lao động, sản xuất. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo có cung cấp tài liệu có xác nhận của Trường PTTH Nguyễn Đức Mậu, nơi bị cáo đang giảng dạy về T tích cá nhân trong công tác, tuy nhiên chưa đủ căn cứ để áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm v khoản 1 Điều 52 BLHS. Xét thấy, bị cáo tham gia trong vụ án với vai trò giúp sức thứ yếu, không có ý thức hưởng lợi trong việc thực hiện hành vi; bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nơi cư trú rõ ràng, nghề nghiệp ổn định. Vì vậy, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, áp dụng Điều 54 BLHS, khi quyết định hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

7. Đối với bị cáo Nguyễn BN, ngoài hành vi trực tiếp đánh bạc, trong vụ án này bị cáo còn giúp sức cho Hồ Sỹ T đánh bạc, bị cáo nhân thân xấu, có tiền sự về tội đánh bạc; bị cáo thực hiện nhiều lần hành vi đánh bạc, do đó bị cáo pH chịu tình tiết tăng năng phạm tội từ 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, cần pH xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ: sau khi phạm tội đã ra đầu thú, T khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trước đây đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc cung cấp thông tin để phục vụ công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm ma túy, được Công an huyện Mường Lát, Thanh Hóa xác nhận; quá trình sinh sống tại địa phương đã nhiều lần tích cực tham gia cứu giúp người bị tai nạn. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Vì vậy, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, áp dụng Điều 54 BLHS, khi quyết định hình phạt.

8. Bị cáo Hồ Sỹ T thực hiện nhiều lần hành vi đánh bạc, do đó bị cáo pH chịu tình tiết tăng năng phạm tội từ 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, cần pH xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ: sau khi phạm tội đã ra đầu thú, T khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trước đây đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc cung cấp thông tin để phục vụ công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm ma túy, được Công an huyện Mường Lát, Thanh Hóa xác nhận; quá trình sinh sống tại địa phương đã từng cứu sống người bị đuối nước. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Vì vậy, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, áp dụng Điều 54 BLHS, khi quyết định hình phạt.

9. Bị cáo Nguyễn Đình D, tham gia đánh bạc với số tiền tương đối lớn. Bị cáo thực hiện nhiều lần hành vi đánh bạc, do đó bị cáo pH chịu tình tiết tăng năng phạm tội từ 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ: sau khi phạm tội T khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo có công với cách mạng, bố đẻ bị cáo được tặng thưởng huân chương, chú ruột bị cáo là liệt sỹ; gia đình bị cáo cũng đã tích cực hưởng ứng phong trào xây dựng, phát triển tại địa phương bằng việc hiến đất làm đường, được chính quyền địa phương xác nhận. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

10. Bị cáo Nguyễn Văn H, tham gia đánh bạc với số tiền không nhiều. Bị cáo thực hiện nhiều lần hành vi đánh bạc, do đó bị cáo pH chịu tình tiết tăng năng phạm tội từ 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ: sau khi phạm tội T khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bố, mẹ bị cáo là người có công với nước được tặng thưởng huân chương; gia đình bị cáo cũng đã tích cực hưởng ứng phong trào xây dựng Nông thôn mới tại địa phương bằng việc hiến đất làm đường, được chính quyền địa phương xác nhận. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Hình phạt bổ sung: Các bị cáo thực hiện nhiều lần hành vi đánh bạc, xét thấy, cần pH áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.

Các biện pháp tư pháp:

Xử lý vật chứng: Tại Pên tòa các bị cáo Nguyễn Quốc P, Trần Đình T, Hoàng VN, Nguyễn BN, Hồ Sỹ T, Nguyễn Đình D, Nguyễn Văn H đều khai nhận điện thoại, máy tính đang bị thu giữ là công cụ các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Bị cáo Đặng Quốc M đề nghị trả lại điện thoại SamSung Galaxy A20s màu đen vì không sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên căn cứ kết quả trích xuất giữ liệu trên chiếu điện thoại này, xác định có nội dung liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo vì vậy cần tịch thu dung ngân sách nhà nước.

Chiếc điện thoại SONY Xperia XA1của Phạm Xuân T, xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, vì vậy, trả lại cho bị cáo. Số tiền 150.000.000 đồng thu giữ tại nhà Đặng Quốc M và 30.000.000 đồng thu giữ tại nhà Hoàng VN, không liên quan đến hành vi phạm tội và là tài sản của các bị cáo, vì vậy, trả lại cho các bị cáo.

Số tiền Nguyễn Quốc P, Hoàng VN, Nguyễn BN, Nguyễn Văn H đã thu lợi bất chính từ việc đánh bạc, cần tịch thu (truy thu) nộp ngân sách. Cụ thể: Nguyễn Quốc P: 13.306.000 đồng; Hoàng VN 6.448.000 đồng; Nguyễn BN 1.730.000 đồng; Nguyễn Văn H 5.700.000 đồng.

Đối với hành vi đánh bạc dưới 5 triệu đồng của Phạm Xuân T, Hoàng VN, Nguyễn S, Trần Đình T, Hồ Sỹ T, Nguyễn Văn H, Nguyễn Đình D đã bị cơ quan có thẩm quyền quyết định xử phạt hành chính đối với các bị cáo là đúng quy định của pháp luật.

Đối tượng Nguyễn Ngọc Công T, Lê Văn Hưng, Nguyễn Đình Thông, Nguyễn Bá Quyền và những người đánh bạc trong các tài khoản: DTC491577002,

DTC491577005,

DTC491577006,

DTC491577009, DTC49157700B DTC491501003, DTC491501004, DTC491501006, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ để xử lý theo quy định pháp luật.

Về án phí: Các bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố:

- Bị cáo Đặng Quốc M phạm tội "Tổ chức đánh bạc", theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự;

- Bị cáo Nguyễn Quốc P phạm các tội "Tổ chức đánh bạc", theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 322 và tội "Đánh bạc", theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự ;

- Bị cáo Nguyễn S phạm tội "Đánh bạc” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự;

- Các bị cáo Trần Đình T, Hồ Sỹ T, Hoàng VN, Phạm Xuân T và Nguyễn BN phạm tội "Đánh bạc", theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự;

- Các bị cáo Nguyễn Đình D và Nguyễn Văn H phạm tội "Đánh bạc", theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

[1.1] Căn cứ vào điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 322; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt Đặng Quốc M 02 (hai) năm, 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam bị cáo để thi hành án nhưng được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/8/2020 đến 16/11/2020.

Xử phạt bổ sung hình phạt tiền đối với bị cáo Đặng Quốc M 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng.

[1.2] Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 322, khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54, Điều 55, Điều 56 Bộ luât hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc P 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc” 18 (mười tám) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo pH chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 30 (ba mươi) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo tại bản án hình sự sơ thẩm số 04/2020/HSST, ngày 16/01/2020, của Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, buộc bị cáo pH chấp hành hình phạt của hai bản án là 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 03/8/2020.

Xử phạt bổ sung hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Quốc P 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng.

[1.3] Căn cứ vào điểm b, c khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn S 18 (mười tám) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam bị cáo để thi hành án nhưng được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/8/2020 đến 12/8/2020.

Xử phạt bổ sung hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn S 10.000.000 (Mười triệu) đồng.

[1.4] Căn cứ vào điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Đình T 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam bị cáo để thi hành án nhưng được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/8/2020 đến 12/8/2020.

Xử phạt bổ sung hình phạt tiền đối với bị cáo Trần Đình T 10.000.000 (Mười triệu) đồng.

[1.5] Căn cứ vào điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt Hoàng VN 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam bị cáo để thi hành án nhưng được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/8/2020 đến 12/8/2020 và từ ngày 01/11/2020 đến 22/12/2020.

Xử phạt bổ sung hình phạt tiền đối với bị cáo Hoàng VN 10.000.000 (Mười triệu) đồng.

[1.6]. Căn cứ vào điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Phạm Xuân T 12 (mười hai) tháng tù về tội “Đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bổ sung hình phạt tiền đối với bị cáo Phạm Xuân T 10.000.000 (Mười triệu) đồng.

[1.7] Căn cứ vào điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn BN 13 (mười ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam bị cáo để thi hành án nhưng được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/8/2020 đến 30/12/2020.

Xử phạt bổ sung hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn BN 10.000.000 (Mười triệu) đồng.

[1.8] Căn cứ vào điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt Hồ Sỹ T 12 (mười hai) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam bị cáo để thi hành án nhưng được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/8/2020 đến 12/8/2020.

Xử phạt bổ sung hình phạt tiền đối với bị cáo Hồ Sỹ T 10.000.000 (Mười triệu) đồng.

[1.9] Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, khoản 3; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Đình D 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bổ sung hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Đình D 10.000.000 (Mười triệu) đồng.

[1.10] Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn H 08 (tám) tháng tù về tội “Đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 16 (mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bổ sung hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn H 10.000.000 (Mười triệu) đồng.

Giao bị cáo Phạm Xuân T cho UBND xã Sơn H, huyện Quỳnh Lưu; giao bị cáo Nguyễn Đình D cho UBND thị trấn Tân Kỳ, huyện Tân Kỳ; giao bị cáo Nguyễn Văn H cho UBND xã Kỳ Lâm, huyện Tân Kỳ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì pH thực hiện theo quy định pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phát chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2; điểm a, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2.1] Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

Tịch thu của Đặng Quốc M 01 (một) điện thoại Iphone 7 Plus màu vàng; 01 (một) điện thoại SAMSUNG Galaxy A20s màu đen. Tịch thu của Nguyễn Quốc P 01 điện thoại hiệu Iphone 6S, màu vàng. Tịch thu của Trần Đình T: 01 điện thoại hiệu Iphone 6S Plus, màu xám; 01 máy tính xách tay, hiệu Dell, màu đen; 01 chuột máy tính hiệu Fuhlen, màu đen; 01(một) dây xạc máy tính. Tịch thu của Hoàng VN 01 điện thoại hiệu Iphone 7 Plus màu đen, máy đã qua sử dụng. Tịch thu của Nguyễn BN 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO F9, màu đen. Tịch thu của Hồ Sỹ T 01 điện thoại hiệu Samsung galaxy J3 màu vàng đồng. Tịch thu của Nguyễn Đình D 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG Galaxy A7 màu vàng. Tịch thu của Nguyễn Văn H 01 điện thoại di động hiệu OPPO X6A37F màu vàng.

[2.2] Trả lại cho bị cáo Đặng Quốc M số tiền 150.000.000 (Một trăm năm mươi triệu) đồng; Trả lại cho bị cáo Hoàng VN số tiền 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng; Trả lại cho bị cáo Phạm Xuân T 01 điện thoại di động hiệu SONY XperiaXA1 màu đen.

Đặc điểm các vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/3/2021, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An và Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.

Số tiền 180.000.000 đồng hiện đang có tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Nghệ An theo Biên bản giao nhận tài sản số 01/2021/BBBG-KBNA(VNĐ) ngày 04/01/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An và Kho bạc Nhà nước tỉnh Nghệ An.

[2.3] Tịch thu (truy thu) sung ngân sách Nhà nước đối với số tiền các bị cáo Nguyễn Quốc P, Hoàng VN, Nguyễn BN, và Nguyễn Văn H thu lợi bất chính từ việc đánh bạc: Cụ thể: Nguyễn Quốc P: 13.306.000 đồng; Hoàng VN 6.448.000 đồng; Nguyễn BN 1.730.000 đồng; Nguyễn Văn H 5.700.000 đồng.

[3] Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các Đặng Quốc M, Nguyễn Quốc P, Nguyễn S, Trần Đình T, Hoàng VN, Phạm Xuân T, Nguyễn BN, Hồ Sỹ T, Nguyễn Đình D, Nguyễn Văn H mỗi bị cáo pH chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo Bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội./.

Cỡ chữ