vanban.org

Bản án 120/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H đối với vợ chồng anh Phạm Văn P và chị Trần Thị H.

Buộc anh Phạm Văn P và chị Trần Thị H cùng có trách nhiệm trả nợ bà Trần Thị H số tiền 694.000.000đ (Sáu trăm chín mươi tư triệu đồng). Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "TRẦN THỊ H + PHẠM VĂN P, TRẦN THỊ H1"
  • Tòa quyết gì? Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H đối với vợ chồng anh Phạm Văn P và chị Trần Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 13 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI HẬU
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 120/2021/DS - ST
Ngày: 21 - 9 -2021
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lưu Văn Đê;

Ông Nguyễn Văn Hóa.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Én - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 56/2021/TLST - DS ngày 08 tháng 6 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2021/QĐXXST - DS ngày 12 tháng 8 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 57/QĐST – DS, ngày 31 tháng 8 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1956; địa chỉ: Xóm 13, xã H.A, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; “vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt”.

- Bị đơn: Anh Phạm Văn P, sinh năm 1980 và chị Trần Thị H, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ dân phố số 4, thị trấn Y.Đ, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 01 tháng 6 năm 2021, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Trần Thị H trình bày:

Do quen biết nên nhiều lần bà H cho vợ chồng anh Phạm Văn P và chị Trần Thị H vay tiền. Tổng số tiền bà H cho vợ chồng anh P, chị H vay là 790.000.000đ (bảy trăm chín mươi triệu đồng), cụ thể các lần vay như sau: Ngày 01/9/2014 (âm lịch) vay 280.000.000 đồng; Ngày 29/02/2015 (âm lịch) vay 100.000.000 đồng; Ngày 07/3/2015(âm lịch) vay 130.000.000 đồng; Ngày 03/4/2015 (âm lịch) vay 100.000.000 đồng; Ngày 08/5/2015(âm lịch) vay 60.000.000 đông; Ngày 26/5/2015(âm lịch) vay 20.000.000 đồng; Ngày 25/6/2015(âm lịch) vay 100.000.000 đồng. Các khoản vay này khi vay hai bên đều lập Hợp đồng thỏa thuận vay tiền, bà H và vợ chồng anh P, chị H đều ký nhận trong các hợp đồng vay này. Khi vay hai bên thỏa thuận miệng lãi suất theo Ngân hàng Nhà Nước. Thời hạn thanh toán là khi nào cần thì báo trước 10 ngày, sau đó do gia đình bà buôn bán vàng nên cần vốn làm ăn có đòi nợ vợ chồng anh P, chị H số tiền vay, vợ chồng anh P, chị H trả cho bà được 96.000.000đ bà H đồng ý trừ vào nợ gốc đến,số còn lại cứ khất lần không trả từ ngày 25/06/2015 âm lịch đến nay. Thời gian gần đây bà không liên lạc với vợ chồng anh P, chị H vì vậy bà đã nhờ Tòa án đăng thông tin liên quan đến vụ việc trên các phương tiện thông tin đại chúng để anh P và chị H được biết. Số tiền cho vợ chồng anh P, chị H vay là tài sản bà giành dụm tích góp bao nhiêu năm mà có. Nay bà đề nghị Tòa án buộc vợ chồng anh P, chị H phải trả số tiền gốc còn nợ là 694.000.000 đồng, bà H không yêu cầu trả lãi.

Đối với bị đơn là anh Phạm Văn P và chị Trần Thị H:

Trong quá trình tố tụng, Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và nhiều lần triệu tập anh P, chị H đến Tòa án làm việc theo quy định pháp luật nhưng anh chị đều vắng mặt. Tòa án đã xác minh tại địa phương được biết anh P, chị H không có mặt tại nơi cư trú, Hộ khẩu thường trú vẫn đăng ký tại TDP số 4 thị trấn Y.Đ, hiện nay đi làm ăn ở đâu không báo cáo địa phương biết, không có địa chỉ cụ thể nơi đến. Ngày 10/6/2021, Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu đã ra thông báo đăng nội dung vụ việc và thời gian làm việc tại Tòa án trên phương tiện thông tin đại chúng là Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân, báo Công lý các số 52,53,54 ra các ngày 30/6/2021, ngày 02 và ngày 07/7/2021, Trung tâm quảng cáo và dịch vụ truyền thông (VOV AMS) phát VOV2 vào hồi 17 giờ 30 phút các ngày 19, 20, 21/6/2021 để anh P chị H biết. Tuy nhiên đến nay anh P ,chị H vẫn vắng mặt không có lý do cũng không có văn bản thể hiện ý kiến gửi cho Tòa án.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tại phiên tòa đều đảm bảo tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự. Đương sự cơ bản đã chấp hành đúng quy định pháp luật. Nguyên đơn là bà Trần Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn là anh Phạm Văn P và chị Trần Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên đủ căn cứ xét xử vắng mặt.

Về nội dung: Căn cứ vào các Điều 357, 463, 466, 468 và 688 Bộ luật Dân sự 2015; Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H đối với vợ chồng anh Phạm Văn P và chị Trần Thị H. Buộc anh Phạm Văn P và chị Trần Thị H cùng phải có trách nhiệm trả bà Trần Thị H số tiền nợ gốc là 694.000.000 đồng. Về lãi suất do bà H không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Nguyên đơn bà Trần Thị H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn là anh Phạm Văn P và chị Trần Thị H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về xác định quan hệ tranh chấp và luật áp dụng: Quan hệ tranh chấp trong vụ án là quan hệ về Hợp đồng vay tài sản không kỳ hạn được xác lập vào trước ngày 01/01/2017 (ngày có Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực) nên về nguyên tắc áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 để xét xử. Tuy nhiên, theo Bộ luật Dân sự 2015 thì nội dung và hình thức của các giao dịch này phù hợp với quy định tại Bộ luật Dân sự 2005. Vì vậy, áp dụng quy định tại Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015, xác định luật áp dụng là Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về hợp đồng vay tiền: Theo bà H thì từ ngày 01/9/2014 (âm lịch) đến ngày 25/6/2015 (âm lịch) vợ chồng anh P, chị H bảy lần vay của bà với tổng số tiền là 790.000.000đồng. Các lần vay đều lập hợp đồng thỏa thuận vay tiền, theo bà H khai phần chữ viết trong các hợp đồng này đều do chị H viết. Phần người vay tiền đều có chữ ký và viết đứng tên anh P và chị H. Phần người cho vay tiền có chữ ký và chữ viết của bà H. Đến nay anh P, chị H mới trả bà H số tiền 96.000.000đồng, còn nợ gốc 694.000.000đồng. Tiền lãi từ ngày 25/6/2021 (âm lịch) đến nay chưa trả.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn thông qua hình thức niêm yết, nhắn tin trên phương tiện thông tin đại chúng, giao cho bố đẻ anh P nhận thay nhưng ông không ký biên bản và không cung cấp địa chỉ bị đơn. Tuy niên, đến nay anh P, chị H không có ý kiến phản hồi về nội dung cũng như yêu cầu khởi kiện của bà H bằng bản tự khai, để Tòa án xem xét. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị H là có căn cứ chấp nhận và phù hợp với quy định của Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Xét các hợp đồng thỏa thuận vay số tiền 790.000.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy nội dung trong hợp đồng đã thể hiện ý chí, sự thỏa thuận thống nhất của bên vay và bên cho vay theo Điều 471 của Bộ luật Dân sự 2005, Điều 463 của Bộ luật dân sự 2015. Do đó có căn cứ khẳng định các hợp đồng vay tiền đề ngày 01/9/2014 (âm lịch) vay số tiền 280.000.000 đồng, ngày 29/02/2015 (âm lịch) vay số tiền 100.000.000 đồng, ngày 07/3/2015(âm lịch) vay số tiền 130.000.000 đồng; ngày 03/4/2015 (âm lịch) vay số tiền 100.000.000 đồng; Ngày 08/5/2015 (âm lịch) vay số tiền 60.000.000 đông; Ngày 26/5/2015(âm lịch) vay số tiền 20.000.000 đồng; Ngày 25/6/2015(âm lịch) vay số tiền 100.000.000 đồng giữa vợ chồng anh P, chị H với bà H là hợp pháp.

Về lãi suất: Do bà H không yêu cầu anh P, chị H trả tiền lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết tiền lãi.

Về trách nhiệm trả nợ: Từ những phân tích, đánh giá trên xét thấy việc vợ chồng anh P, chị H vay tổng số tiền 790.000.000 đồng của bà H là đúng, bà H thừa nhận anh P, chị H đã trả số tiền 96.000.000đồng nhất trí trừ vào tiền gốc, còn nợ lại tổng là 694.000.000đồng. Do đó căn cứ vào Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015, có đủ căn cứ để buộc vợ chồng anh Phạm Văn P và chị Trần Thị H cùng phải có trách nhiệm trả bà Trần Thị H số tiền 694.000.000đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào các Điều 357, 463, 466, 468 và 688 Bộ luật Dân sự;

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H đối với vợ chồng anh Phạm Văn P và chị Trần Thị H.

Buộc anh Phạm Văn P và chị Trần Thị H cùng có trách nhiệm trả nợ bà Trần Thị H số tiền 694.000.000đ (Sáu trăm chín mươi tư triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự cho đến khi thi hành án xong.

2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 13 và 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc:

Anh Phạm Văn P và chị Trần Thị H phải nộp số tiền 31.760.000đ (ba mươi mốt triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Trần Thị H, bị đơn anh Phạm Văn P và chị Trần Thị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Văn Đê Nguyễn Văn Hóa

Nguyễn Thị Hằng

Cỡ chữ