vanban.org

Bản án 120/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Lê Bích Thủy.

Về án phí: bà Lê Bích Thủy phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0020247 ngày 29/3/2019 của Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Vị Thanh. Các đương sự có quyền làm đơn kháng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Bích Thủy - Lê Văn Tuấn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Lê Bích Thủy.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VỊ THANH
TỈNH HẬU GIANG
———————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 120/2019/HNGĐ-ST
Ngày 18-6-2019
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Bằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thanh Liêm

Ông Kim Trung Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Ngọc Dung là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.

Ngày 18 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 64/2019/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Bích Thủy.

Địa chỉ: ấp Phước Hòa A, xã Đông Phước A, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Lê Văn Tuấn.

Địa chỉ: khu vực 3, phường III, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 13/11/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Bích Thủy trình bày:

Bà Thủy và ông Tuấn kết hôn năm 2005, có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống do vợ chồng tính cách quá khác biệt, nên phát sinh mâu thuẫn, cãi vã nhau không hạnh phú, vợ chồng đã ly thân nhau từ năm 2015 cho đến nay.

Về con chung: bà Thủy và ông Tuấn có 01 con chung tên Lê Anh Tú (giới tính: Nữ), sinh ngày 13/9/2010, từ lúc vợ chồng ly thân, cháu Tú sống chung với bà Thủy. Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Bà Lê Bích Thủy khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về hôn nhân: bà Thủy yêu cầu được ly hôn với ông Tuấn.

Về con chung: bà Thủy yêu cầu được nuôi dưỡng con chung tên Lê Anh Tú sau khi vợ chồng ly hôn, không yêu cầu ông Tuấn cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với ông Lê Văn Tuấn vắng mặt trong toàn bộ tiến trình tố tụng tại cấp sơ thẩm, đồng thời chưa thể hiện ý kiến của mình bằng văn bản, đối với nội dung tranh chấp trong vụ án.

Những nội dung mà các đương sự đã thống nhất thỏa thuận được: không.

Những nội dung mà các đương sự không thống nhất thỏa thuận được: toàn bộ nội dung tranh chấp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: bà Lê Bích Thủy khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Văn Tuấn, yêu cầu được nuôi dưỡng con chung. Do đó, đây là tranh chấp ly hôn, nuôi con nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Đối với ông Lê Văn Tuấn dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Tuấn.

Về hôn nhân: bà Thủy và ông Tuấn kết hôn năm 2005, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên quan hệ hôn nhân của bà Thủy và ông Tuấn được công nhận là hợp pháp. Quá trình chung sống do vợ chồng tính cách quá khác biệt, nên phát sinh mâu thuẫn, cãi vã nhau không hạnh phúc. Vợ chồng đã ly thân nhau từ năm 2015 cho đến nay. Từ đó cho thấy hôn nhân của bà Thủy và ông Tuấn đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa, bà Thủy cương quyết yêu cầu được ly hôn. Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án giải quyết cho bà Thủy được ly hôn với ông Tuấn.

Về con chung: quá trình chung sống bà Thủy và ông Tuấn có 01 con chung tên Lê Anh Tú (giới tính: Nữ), sinh ngày 13/9/2010. Bà Thủy yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tú sau khi ly hôn. Tòa án thấy rằng: hiện tại cháu Tú thực tế đang sống chung với bà Thủy, đồng thời nguyện vọng của cháu Tú là muốn được sống chung với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Mặt khác, bà Thủy hiện có nghề nghiệp và thu nhập tương đối ổn định, có khả năng nuôi dưỡng cháu Tú. Sau khi cân nhắc việc đảm bảo quyền lợi của cháu Tú sau khi cha mẹ ly hôn về các mặt vật chất, tình cảm và giáo dục. Tòa án căn cứ Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, quyết định giao cháu Tú cho bà Thủy được quyền trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn.

Về cấp dưỡng: ông Tuấn chưa phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do bà Thủy chưa yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự không có tranh chấp, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bà Thủy phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các điều 19, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Lê Bích Thủy. Về hôn nhân: bà Lê Bích Thủy được ly hôn với ông Lê Văn Tuấn. Về con chung: sau khi ly hôn, bà Lê Bích Thủy được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Anh Tú (giới tính: Nữ), sinh ngày 13/9/2010. Ông Lê Văn Tuấn chưa phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do bà Lê Bích Thủy chưa yêu cầu. Ông Lê Văn Tuấn có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được cản trở.

2. Về án phí: bà Lê Bích Thủy phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0020247 ngày 29/3/2019 của Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Vị Thanh.

3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ