- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bé H được ly hôn với anh Trần Hữu H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 120/2019/HNGĐ-ST Ngày: 28/10/2019 V/v “Ly hôn, t/c về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Lâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Đức
2. Ông Nguyễn Thành Phước
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Xuyên – Là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn: Ông Phạm Văn Sơn – Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 183/2019/TLST-HNGĐ ngày 26/4/2019 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 229/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/9/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 163/2019/QĐ-ST ngày 10/10/2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bé H, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Số 350/18 ấp B, xã Hòa N, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Anh Trần Hữu H, sinh năm 1975.
Địa chỉ: ấp V T, xã V, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Nguyên đơn chị Bé H có mặt. Bị đơn anh H vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bé H trình bày:
Chị với anh Trần Hữu H chung sống với nhau từ năm 2000, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi cưới vợ chồng sống chung với gia đình chồng được khoảng 03 tháng rồi chuyển về Bến Tre cũng từ đấy bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh H chơi đá gà, số đề, uống bia ôm và có quan hệ với người phụ nữ khác. Anh H cũng thường xuyên ăn nhậu say xỉn về nhà kiếm chuyện chửi bới vợ con, đập phá đồ đạc trong nhà. Chị vì con mà sống và cũng đã cho anh H nhiều cơ hội để sửa đổi nhưng không thành. Nhận thấy không thể tiếp sống chung với anh H được nữa nên chị đã quyết định sống ly thân khoảng 01 năm nay. Hiện nay tình cảm không còn, không thể hàn gắn lại được nên chị Bé H yêu cầu giải quyết như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bé H xin được ly hôn với anh Trần Hữu H.
- Về quan hệ con chung: Có 02 con chung tên Trần Ngọc Thúy V sinh ngày 17/8/2005 và Trần Đại P sinh ngày 20/7/2008 hiện đang sống với chị Bé H. Sau ly hôn chị Bé H yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Bé H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
* Bị đơn anh Trần Hữu H: Tòa án đã tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho anh H nhưng từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay anh H vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của chị Bé H.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa:
Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự. Xác định đúng mối quan hệ pháp luật, thụ lý và giải quyết đúng theo quy định tại Điều 28, 35, 196 Bộ luật tố tụng dân sự. Thời hạn chuẩn bị xét xử đúng theo Điều 203 và Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự.
Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.
- Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bé H, từ khi thụ lý đến xét xử đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và 234 Bộ luật tố tụn dân sự 2015.
Bị đơn anh Trần Hữu H: Trong suốt quá trình giải quyết đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 đưa ra xét xử là phù hợp.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
+ Về quan hệ hôn nhân; Chị Nguyễn Thị Bé H được ly hôn với anh Trần Hữu H.
+ Về quan hệ con chung; Giao 02 cháu Trần Ngọc Thúy V sinh ngày 17/8/2005 và Trần Đại P sinh ngày 20/7/2008 cho chị Bé H tiếp tục nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Bé H không yêu cầu.
+ Về tài sản chung và nợ chung; Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn và nuôi con. Bị đơn anh Trần Hữu H có đăng ký thường trú tại ấp V, xã V, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn.
Bị đơn anh Trần Hữu H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh H.
Về nội dung tranh chấp:
Chị Nguyễn Thị Bé H và anh Trần Hữu H chung sống với nhau từ năm 2011, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã xã Long Thới, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 78 ngày 20/5/2005. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét yêu cầu của chị Nguyễn Thị Bé H, thấy: Vợ chồng chị Bé H và anh H đã sống ly thân một năm nay. Chị Bé H trình bày rằng trong quá trình chung sống anh H có nhiều tật xấu như đá gà, số đề, bia ôm, có quan hệ với người phụ nữ khác, thường xuyên nhậu say xỉn về nhà chửi bới vợ con, đập phá đồ đạc trong nhà. Từ khi thụ lý vụ án Tòa án tiến hành thông báo hòa giải nhằm mục đích động viên, hàn gắn nhưng anh H vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện nguyện vọng muốn được hàn gắn quan hệ vợ chồng với chị Bé H để xây dựng hạnh phúc gia đình và chăm sóc con chung. Qua biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân có thể hiện trong quá trình sống chung với nhau tại ấp B, xã H, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre giữa chị Bé H và anh H thường xuyên xảy ra mâu thuẫn dẫn đến cự cãi nhau, đến năm 2018 thì ly thân mỗi người sống một nơi cho đến nay. Căn cứ Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị Bé H và anh H không còn, tình trạng hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có đủ căn cứ để áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Bé H.
Về quan hệ con chung, thấy: Qua chứng cứ chị Bé H cung cấp thì chị Bé H và anh H có 02 con chung tên Trần Ngọc Thúy V sinh ngày 17/8/2005 và Trần Đại P sinh ngày 20/7/2008, từ khi vợ chồng sống ly thân thì chị Bé H là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung mặt khác cháu Vy và cháu Phát cũng mong muốn được tiếp tục sống với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ áp dụng Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao con chung Trần Ngọc Thúy V và Trần Đại P cho chị Bé H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Chị Bé H không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chị Bé H là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bé H được ly hôn với anh Trần Hữu H.
Giấy chứng nhận kết hôn số 78 ngày 20/5/2005 của Ủy ban nhân dân xã xã Long Thới, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre không còn giá trị pháp lý.
- Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị Bé H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Trần Ngọc Thúy V sinh ngày 17/8/2005 và Trần Đại P sinh ngày 20/7/2008.
Anh Trần Hữu H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị Bé H phải tạo điều kiện cho anh Tài được quyền đến thăm nom con, không ai được ngăn cản.
Vì lợi ích của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con hay việc cấp dưỡng nuôi con
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có. Tuy nhiên sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị Nguyễn Thị Bé H và anh Trần Hữu H phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bé H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000148 ngày 26/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang nên đã nộp xong.
Chị Nguyễn Thị Bé H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trần Hữu H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã (thị trấn) nơi cơ trú để yêu cầu xem xét phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKS huyện Thoại Sơn; - Chi Cục THADS huyện Thoại Sơn; - UBND TT. Núi Sập, - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoài Lâm |