- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn P - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH! ! Bản án số: 120/2018/HS-PT Ngày: 21-3-2018 |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
- Thành phần Hội đồng xét xử P thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Châu
Các Thẩm phán:
Ông Ngô Ngọc Thắng
Ông Đặng Hồng Sơn
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hương-Thư ký Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Ông Dường Ngọc Ân-Kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh, xét xử P thẩm vụ án hình sự thụ lý số 54/2018/TLST-HS, ngày
29/01/2018 đối với bị cáo Nguyễn Văn P do có kháng cáo của bị cáo đối với bản
án hình sự số 236/2017/HSST ngày 21/12/2017 của Tòa án nhân dân quận A,
Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn P; sinh năm 1962; tại thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: số
168/15/49 đường C, phường C, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp:
Không nghề nghiệp; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn
giáo: Phật; con ông Nguyễn Văn L (chết) và bà Huỳnh Thị Kim H (chết); có 02
con lớn sinh năm 1983, nhỏ sinh năm 1985; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 29/6/2017; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn P: Luật sư Đặng Trường T, Văn
phòng luật sư Đặng Trường T, Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 17 giờ 00 phút ngày 29/6/2017, tại trước số 419 đường Đ,
phường e, quận A, Đội Cảnh sát điều tra Tội phạm về ma tuý Công an quận A phát hiện Nguyễn Văn P điều khiển xe gắn máy nhãn hiệu Honda Wawe biển số 59T1-990.XX chở Nguyễn Thanh L’ có biểu hiện nghi vấn nên đưa về Công an Phường e, quận A kiểm tra. Qua kiểm tra, thu giữ 01 gói kẹo Oishi màu xanh, bên trong có chứa 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng, cất giấu trong nón bảo hiểm treo ở móc phải baga xe máy; 06 gói kẹo Oishi (03 gói màu xanh, 03 gói màu đỏ), bên trong mỗi gói kẹo đều có chứa 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng, cất giấu trong 01 gói thuốc lá hiệu JET để trong túi quần trước bên phải của P. P khai số ma túy thu giữ là Heroin, mục đích P cất giấu là bán cho người nghiện nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận A lập biên bản phạm tội quả tang.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận A, Nguyễn Văn P khai nhận
như sau:
Nguồn gốc ma túy là của một thanh niên tên L (không rõ lai lịch) đưa cho
P. Khoảng một tháng trước P có chở 01 người khách nam giới thiệu tên là L trên đường đi từ cầu TN về TĐ thì L đặt vấn đề thuê P đi giao ma túy cho L và sẽ trả công cho P 300.000 đồng/ngày, P đồng ý, sau đó L và P cho nhau số điện thoại để liên lạc. Theo thỏa thuận giữa L và P thì người mua ma túy sẽ liên lạc trực tiếp với L, sau đó L sẽ nhắn tin số điện thoại của người mua cho P để P liên lạc hẹn địa điểm giao ma túy. L quy định ma túy trong gói kẹo Oishi màu xanh bán giá 500.000 đồng, trong gói kẹo Oishi màu đỏ bán giá 200.000 đồng. Cách hai ngày, vào khoảng 13 giờ 00 phút, L sẽ đưa ma túy cho P một lần, sau đó đến 18 giờ 00 phút, L gọi điện thoại cho P yêu cầu ra gặp người phụ nữ để đưa tiền bán ma túy và nhận tiền công. Địa điểm L giao ma túy cho P và P giao tiền cho người phụ nữ sau khi bán ma túy do L chủ động hẹn, địa điểm không cố định.
Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 29/6/2017 tại khu vực đường TS, Phường f,
quận A, L giao cho P 10 gói ma túy (07 gói màu xanh, 03 gói màu đỏ) để P bán cho các con nghiện. P đã bán ba gói ma túy cho ba con nghiện được 1.500.000 đồng (500.000 đồng/1 gói), còn lại 07 gói ma túy. Đến khoảng gần 17 giờ 00 phút ngày 29/6/2017, Nguyễn Thanh L’ gọi điện thoại cho P hỏi mua ma túy. P hẹn gặp L’ ở trước số 419 đường Đ, Phường e, quận A để giao ma túy. L’ vừa ngồi lên xe của P thì bị công an kiểm tra, bắt giữ. Trước đó P đã bán ma túy cho L’ được bốn lần, mỗi lần bán một gói giá 500.000 đồng. Trong quá trình mua bán trái phép chất ma túy, P khai nhận đã hưởng lợi được số tiền 4.500.000 đồng, đã tiêu xài cá nhân hết.
Nguyễn Thanh L’ khai mua ma túy của P để sử dụng cho bản thân. L’
mua ma túy của P được bốn lần, mỗi lần mua một gói giá 500.000 đồng, phù hợp với lời khai của P.
Căn cứ kết luận giám định số 1166/KLGĐ-H ngày 07/8/2017 của Phòng
kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hồ Chí Minh:
- Gói 1: Bột màu trắng trong 01 gói nylon (đựng trong 01 gói nylon màu
xanh hiệu Oishi) được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Văn P
và hình dấu Công an Phường e, quận A gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn,
có khối lượng 0,8363g (không phẩy tám ba sáu ba gam), loại Heroin.
- Gói 2: Được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Văn P và
hình dấu Công an Phường e, quận A gửi đến giám định, bên trong có:
+ Bột màu trắng trong 03 gói nylon đựng trong 03 gói nylon màu xanh
hiệu Oishi là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,4682g (hai phẩy bốn sáu tám hai
gam), loại Heroin.
+ Bột màu trắng trong 03 gói nylon đựng trong 03 gói nylon màu đỏ hiệu
Oishi là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,0869g (một phẩy không tám sáu chín
gam), loại Heroin .
Bản án hình sự sơ thẩm số 236/2017/HSST ngày 21 tháng 12 năm 2017
của Tòa án nhân dân quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P!07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày
29/6/2017
Buộc bị cáo Nguyễn Văn P nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 4.500.000
đồng (bốn triệu năm trăm ngàn đồng) đồng để sung quỹ Nhà nước.
Ngoài ra, bản án tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo
luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27/12/2017 bị cáo Nguyễn Văn P kháng cáo
xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa P thẩm hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn P giữ nguyên nội dung
kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân
tích tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện xét thấy
Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội,
mức hình phạt là thỏa đáng. Do đó đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị
cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.
Bị cáo không tham gia tranh luận;
Luật sư bào chữa trình bày: Thống nhất về tội danh đối với bị cáo P, đề
nghị Hội đồng xét xử xem xét vai trò của bị cáo là người không trực tiếp mua
bán ma túy mà chỉ đi giao thuê cho L để hưởng lợi. Hiện tại bị cáo sức khỏe yếu,
đang điều trị nhiều bệnh trong đó có bệnh viêm gan mãn tính, hoàn cảnh gia
đình khó khăn, là người già và hiện tại Bộ luật hình sự 2015 đã có hiệu lực thi
hành và khung hình phạt đối với tội này là 05 năm tù nên đề nghị áp dụng để xét
xử đối với bị cáo P.
Đại diện Viện kiểm sát: Bị cáo P có hành vi mua bán nhiều lần, bị cáo
sinh năm 1962 không phải là người già và các trường hợp Luật sư nêu đã được cấp sơ thẩm xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Khung hình phạt về Tội mua bán trái phép chất ma túy quy định tại Bộ luật hình sự 2015 không thay đổi, nên không có căn cứ chấp nhận lời bào chữa của Luật sư.
Luật sư và bị cáo P không tranh luận bổ sung.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn P trong thời hạn luật định là
hợp lệ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa P thẩm.
[2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo Nguyễn Văn P cùng các tài liệu, chứng
cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định: Bị cáo Nguyễn Văn P có hành vi nhiều lần nhận ma túy của đối tượng tên L và bán nhiều lần cho người nghiện Nguyễn Thanh L’ để kiếm lời và tiêu xài cá nhân.
[3] Bản án sơ thẩm số 236/2017/HSST ngày 21/12/2017 của Tòa án nhân
dân quận A đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn P về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người, đúng tội thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa P thẩm, bị cáo P thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải gia đình nộp sổ chữa bệnh viêm gan của bị cáo và còn cho rằng gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn. Tuy nhiên các tình tiết này đều là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46. Tòa án cấp sơ thẩm khi xét xử đã áp các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự và xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 07 (bảy) năm tù, mức hình phạt khởi điểm của khoản 2 Điều 194 là thỏa đáng. Mặt khác, tội mua bán trái phép chất ma túy của Bộ luật hình sự 1999 và Bộ luật hình sự năm 2015 không có gì thay đổi. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận đơn kháng cáo xin giảm mức hình phạt của bị cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã
có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH:!
!
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình
sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn P; Giữ nguyên bản
án sơ thẩm.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, của
Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P!07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày
29/6/2017
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án P thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!P!THẨM!
| Nơi nhận:!! ! !!!!!!! - TAND tối cao; (1) - TAND cấp cao tại Tp. HCM (1) - VKSND Tp. HCM; (3) - Tòa án nhân dân quận A ; (1) - P. PC 53 - CATP; (1) - Bị cáo; (1) - Chi cục THA quận A ; (1) - VKSND quận A ; (2) - Công an quận A ; (1) - Sở Tư pháp; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu: THS, hồ sơ, VT (21). (6) | THẨM!PHÁN!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! ! Trần!Minh!Châu! |