- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Vă S tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T HÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 120/2017/HSST Ngày 12-10-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T HÀNH PHỐ H
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Đông
2. Bà Nguyễn Thị Nga
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hà - Cán bộ Toà án nhân dân huyện T, hành phố H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, hành phố H tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 10 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, hành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 95/2017/ HSST ngày 19/9/2017 đối với bị cáo: Nguyễn Văn S, sinh n¨m 1984 tại hành phố H; Trú tại: Thôn Mánh, xã Thủy Đường, huyện T, hành phố H; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Nguyễn Xuân N, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1960; Chưa có vợ, con; Chưa có tiền án, tiền sự; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14 tháng 6 năm 2016, chuyển tạm giam từ ngày 16 tháng 6 năm 2016; Có mặt.
NHẬN THẤY:
Bị cáo Nguyễn Văn S bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, hành phố H truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 14/6/2017 tại tỉnh lộ 359 thôn Trại, xã Thủy Đường, huyện T, hành phố H, tổ công tác thuộc Đội 3 cụm đặc nhiệm phòng chống ma túy số I của Bộ Tư Lệnh Cảnh sát Biển kết hợp với Công an xã Thủy Đường bắt quả tang Nguyễn Văn S có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy để sử dụng. Thu giữ của S 04 gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy. Tổ công tác đã đưa S cùng vật chứng về trụ sở công an xã Thủy Đường lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại Cơ quan điều tra, S khai nhận: Do nghiện ma túy nên khoảng 09 giờ ngày 14/6/2017, Sang đi sang khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, hành phố H để mua ma túy sử dụng cho bản thân. S mua của một người phụ nữ không quen biết 04 gói Heroine với giá 600.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, S cất số ma túy vào túi quần bên trái đang mặc và đi về đến đoạn đường tỉnh lộ 359 thuộc thôn T, xã T, huyện T tìm chỗ sử dụng thì bị lực lượng công an phát hiện bắt giữ cùng vật chứng như nội dung nêu trên.
Bản Kết luận giám định số 776 ngày 14/6/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an hành phố H kết luận chất bột màu trắng trong 04 gói giấy thu của S có trọng lượng 0,3651 gam, trọng lượng Heroine là 0,2411 gam.
Tại bản cáo trạng số 114/CT-VKS ngày 18 tháng 09 năm 2017 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, hành phố H đã truy tố Nguyễn Văn S về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo Khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. Bị cáo tỏ thái độ ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Kiểm sát viên sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”và đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 194; Điểm p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999; áp dụng nguyên tắc có lợi theo tinh thần quy định tại Khoản 3 Điều 7 và Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015;Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S mức án từ 30 đến 36 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/6/2017. Ngoài ra , Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra công khai tại phiên toà và kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, lời khai của bị cáo, ý kiến của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác.
XÉT THẤY:
Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Văn S tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, phù hợp với Kết luận giám định số 776 ngày 14/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an hành phố H, phù hợp với vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ căn cứ kết luận: Nguyễn Văn S thực hiện hành vi cất giấu 04 gói giấy có trọng lượng 0,3651 gam, trọng lượng Heroine là 0,2411 gam.
Theo bị cáo khai, do nghiện ma túy nên S thường xuyên mua ma túy về sử dụng. Ngày 14/6/2017, S một mình đi sang khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn, quận L, hành phố H để mua của một người phụ nữ không quen biết 04 gói Heroine với giá 600.000 đồng với mục đích sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được ma túy, S cất số ma túy vào túi quần bên trái đang mặc và đi về đến đoạn đường tỉnh lộ 359 thuộc thôn T, xã T, huyện T để tìm chỗ sử dụng thì bị lực lượng công an phát hiện bắt giữ quả tang cùng vật chứng. Hành vi cất giấu 0,2411 gam Heroine tinh chất bị cáo đã thỏa mãn cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” vi phạm khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
Tính chất của vụ án là nghiêm trọn, hành vi của bịc áo là nguy hiểm cho xã hội khoogn những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự địa phương. Mặt khác, tệ nạn ma túy đang là hiểm họa lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khỏe, làm suy thoái giống nòi, hạ thấp phẩm giá con người. Ma túy còn là tác nhân lây truyền căn bệnh thế kỷ AIDS. Nhà nước ta đã có chính sách xử lý nghiêm khắc đối với loại tội phạm này song tình hình tội phạm về ma túy vẫn đang có diễn biến phức tạp. Vì vậy cần thiết phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tích chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bố đẻ bị cáo S là ông Nguyễn Xuân N cung cấp cho Hội đồng xét xử tài liệu chứng minh cho ông được Nhà nước tặng Huy Chương Kháng chiến chống Mỹ hạng II theo Quyết định số 96 ngày 15/8/1986, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự nên có thể xem xét giảm nhẹ một phần cho bị cáo.
Bị cáo bị truy tố và đưa ra xét xử về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 có khung hình phạt từ 02 đến 07 năm tù. Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “ Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a)…
b)…
c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine,Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”
Như vậy Khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 có khung hình phạt cao hơn so với khung hình phạt của Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Theo quy định trên thì bị cáo được áp dụng quy định có lợi cho bị cáo để xét xử bị cáo theo khung hình phạt của Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng cần thiết phải xử phạt bị cáo mức án trên mức khởi điểm của khung hình phạt tù, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo riêng bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Theo quy định tại Khoản 5 Điều 194 của Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền . Xét bị cáo không có tài sản riêng và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Hiện Chi cục Thi hành án huyện T đang quản lý: 01 phong bì niêm phong chøa chất ma túy còn lại sau giám định. Đối với 01 phong bì niêm phong chất ma túy là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp với các quy định tại Điều 41 Bộ luật Hình sự, Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 194; Điểm p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999; Khoản 3 Điều 7 và Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Nguyễn Văn S 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tù tính từ ngày 14/6/2017.
Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự, Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong chứa chất ma túy còn lại sau giám định (Vật chứng có đặc điểm được mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 18 tháng 09 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, thành phố H).
Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn S phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./. NơNơii nnhhậậnn::
TTMM.. HHỘỘII ĐĐỒỒNNGG XXÉÉTT XXỬỬ SSƠƠ TTHHẨẨMM -- BBịị ccááoo;;
TTHHẨẨMM PPHHÁÁNN -- CCHHỦỦ TTỌỌAA PPHHIIÊÊNN TTÒÒAA -- VVKKSSNNDD hhuuyyệệnn TT;; -- VVKKSSNNDD hhàànnhh pphhốố HH;; -- CCơơ qquuaann đđiiềềuu ttrraa ccôônngg aann hhuuyyệệnn TT;; -- CCơơ qquuaann TTHHAAHHSSCCAA hhuuyyệệnn TT;; -- TTrrạạii ttạạmm ggiiaamm ccôônngg aann hhàànnhh pphhốố HH;; -- TTAANNDD hhàànnhh pphhốố HH;; -- CCôônngg aann hhàànnhh pphhốố HH;; -- CChhii ccụụcc TTHHAADDSS hhuuyyệệnn TT;; -- SSởở TTưư pphháápp hhàànnhh pphhốố HH;;
NNgguuyyễễnn VVăănn VVâânn -- LLưưuu:: VVTT,, hhồồ ssơơ vvụụ áánn..
c¸c héi thÈm nh©n d©n
thÈm ph¸n chñ to¹ phiªn toµ
Nguyễn Văn Vân