vanban.org

Bản án 120/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An Tuyên án 28/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Thu G, Nguyễn Thị H, Nguyễn Hoàng A, Mai Thanh L, Đoàn Thị M, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị Thùy A, Trần Trung D và Trần Thị Mỹ N phạm tội đánh bạc.

Về tang vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự, Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 06 bộ bài tây, loại bài tây 52 lá và 01 tấm chi u kích thước 02m x 03m. Các vật chứng này hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/9/… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T và đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Thu G, Nguyễn Thị H, Nguyễn Hoàng A, Mai Thanh L, Đoàn Thị M, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị Thùy A, Trần Trung D và Trần Thị Mỹ N phạm tội đánh bạc.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 20 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HOÀ
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 120/2017/HSST
Ngày: 28-9-2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Khánh;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Bạo – Trưởng phòng, Phòng Tổ chức hành chính Bệnh viện đa khoa khu vực Hậu Nghĩa.

Bà Trương Thị Kim Cương – Phó Trưởng phòng, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Đức Hòa.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Quân, Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Mẫn, Kiểm sát viên;

Ngày 28/9/2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 120/2017/HSST ngày 15/9/2017 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn T, sinh năm: 1981.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, x M, huyện Đ, tỉnh L; Chỗ ở hiện nay: Ấp T, x M, huyện Đ, tỉnh L; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Họ và tên cha: Nguyễn Văn P, sinh năm 1966 còn sống ; Họ và tên m : Mai Thị H, sinh năm 1953 còn sống ; Bị cáo c v tên Nguyễn Thị D, sinh năm 1988 và 02 con nhỏ: lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh ngày 20/5/2017; Tiền án, tiền sự: Không c ; Bị cáo bị b t tạm gi , tạm giam t ngày 06/6/2017, đ n ngày 14/7/2017 đư c thay th b ng biện pháp ngăn ch n cấm đi khỏi nơi cư trú.

(Bị cáo có mặt tại phiên Tòa)

2. Nguyễn Thị Thu G, sinh năm: 1978.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp M 1, x M, huyện Đ, tỉnh L; Chỗ ở hiện nay: Ấp M 1, x M, huyện Đ, tỉnh L; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Họ và tên cha: Nguyễn Văn L, sinh năm 1954 còn sống ; Họ và tên m : Mai Thị H, sinh năm 1954 còn sống ; Bị cáo có 01 con, sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo bị b t tạm gi , tạm giam t ngày 06/6/2017, đ n ngày 14/7/2017 đư c thay th b ng biện pháp ngăn ch n cấm đi khỏi nơi cư trú.

(Bị cáo có mặt tại phiên Tòa)

3. Nguyễn Thị H, sinh năm: 1976.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, x M, huyện Đ, tỉnh L; Chỗ ở hiện nay: Ấp T, x M, huyện Đ, tỉnh L; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Họ và tên cha: Nguyễn Văn M đ ch t ; Họ và tên m : Trần Thị C, sinh năm: 1952 còn sống ; Bị cáo c ch ng tên Lê Bách V, sinh năm 1981 ch ng sau ; Bị cáo có 08 người con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo bị b t tạm gi , tạm giam t ngày 06/6/2017, đ n ngày 14/7/2017 đư c thay th b ng biện pháp ngăn ch n cấm đi khỏi nơi cư trú.

(Bị cáo có mặt tại phiên Tòa)

4. Nguyễn Hoàng A, sinh năm: 1988.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, x M, huyện Đ, tỉnh L; Chỗ ở hiện nay: Ấp T, x M, huyện Đ, tỉnh L; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 2/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Họ và tên cha: Nguyễn Văn M đ ch t ; Họ và tên m : Trần Thị C, sinh năm 1952 còn sống ; Bị cáo đ cưới và sống chung với chị Nguyễn Thị L t năm 2015 nhưng chưa đăng ký k t hôn, chưa c con chung; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo bị b t tạm gi , tạm giam t ngày 06/6/2017, đ n ngày 14/7/2017 đư c thay th b ng biện pháp ngăn ch n cấm đi khỏi nơi cư trú.

(Bị cáo có mặt tại phiên Tòa)

5. Mai Thanh L, sinh năm: 1972.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp M 2, x M, huyện Đ, tỉnh L; Chỗ ở hiện nay: Ấp M 2, x M, huyện Đ, tỉnh L; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Nội tr ; Họ và tên cha: Mai Văn L, sinh năm 1947 ch t ; Họ và tên m : Huỳnh Thị L (tên gọi khác là Bùi Thị C), sinh năm 1949 ch t ; Bị cáo hiện đang sống cùng ch ng tên Đ ng Văn T, sinh năm 1955; Bị cáo có 07 người con: lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo bị b t tạm gi , tạm giam t ngày 06/6/2017 đ n ngày 14/7/2017 đư c thay th b ng biện pháp ngăn ch n cấm đi khỏi nơi cư trú.

(Bị cáo có mặt tại phiên Tòa)

6. Đoàn Thị M, sinh năm: 1962.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp M 2, x M, huyện Đ, tỉnh L; Chỗ ở hiện nay: Ấp M 2, x M, huyện Đ, tỉnh L; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Nghề nghiệp: Làm mướn; Họ và tên cha: Đoàn Văn N, sinh năm 1933 ch t ; Họ và tên m : Nguyễn Thị A, sinh năm 1949 ch t ; Bị cáo c ch ng tên Trương Văn S tên gọi khác là M) ch t và c 03 người con: lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất sinh năm 1986; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo bị b t tạm gi , tạm giam t ngày 06/6/2017, đ n ngày 14/7/2017 đư c thay th b ng biện pháp ngăn ch n cấm đi khỏi nơi cư trú.

(Bị cáo có mặt tại phiên Tòa)

7. Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1978.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp M 2, x M, huyện Đ, tỉnh L; Chỗ ở hiện nay: Ấp M 2, x M, huyện Đ, tỉnh L; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 2/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Họ và tên cha: Không xác định; Họ và tên m : Nguyễn Thị M, sinh năm 1942 ch t ; Bị cáo c ch ng tên Đ ng Văn V, sinh năm 1972 và c 02 người con: lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo bị b t tạm gi , tạm giam t ngày 06/6/2017, đ n ngày 14/7/2017 đư c thay th b ng biện pháp ngăn ch n cấm đi khỏi nơi cư trú.

(Bị cáo có mặt tại phiên Tòa)

8. Nguyễn Thị Thùy A, sinh năm: 1983.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, x M, huyện Đ, tỉnh L; Chỗ ở hiện nay: Ấp T, x M, huyện Đ, tỉnh L; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Họ và tên cha: Nguyễn Văn T, sinh năm 1953 ch t ; Họ và tên m : Phạm Thị Thu N, sinh năm 1956 ch t ; Bị cáo c ch ng tên Nguyễn Phát Đ, sinh năm 1981 và c 01 người con, sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo bị b t tạm gi , tạm giam t ngày 06/6/2017, đ n ngày 14/7/2017 đư c thay th b ng biện pháp ngăn ch n cấm đi khỏi nơi cư trú.

(Bị cáo có mặt tại phiên Tòa)

9. Trần Trung D, sinh năm: 1993.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp M 1, x M, huyện Đ, tỉnh L; Chỗ ở hiện nay: Ấp M 1, x M, huyện Đ, tỉnh L; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Sinh viên; Họ và tên cha: Trần Trung K, sinh năm 1954 còn sống ; Họ và tên m : Mai Thị A, sinh năm 1958 còn sống ; Bị cáo chưa c v , con; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo bị b t tạm gi , tạm giam t ngày 06/6/2017, đ n ngày 14/7/2017 đư c thay th b ng biện pháp ngăn ch n cấm đi khỏi nơi cư trú.

(Bị cáo có mặt tại phiên Tòa)

10. Trần Thị Mỹ N, sinh năm: 1978.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số X, đường số 60, tổ 4, ấp X, xã T, huyện C, thành phố H; Chỗ ở hiện nay: Số X, đường số 60, tổ 4, ấp X, xã T, huyện C, thành phố H; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Họ và tên cha: Trần Văn X, sinh năm 1953 còn sống ; Họ và tên m : Cái Thị M, sinh năm 1954 còn sống ; Bị cáo c ch ng tên Nguyễn Ty T, sinh năm 1978 và 02 người con: lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo bị b t tạm gi , tạm giam t ngày 06/6/2017 đ n ngày 14/7/2017 đư c thay th b ng biện pháp ngăn ch n cấm đi khỏi nơi cư trú.

(Bị cáo có mặt tại phiên Tòa)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Đoàn Long H, sinh năm 1969. v ng m t

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đ.

2. Anh Nguyễn Công T, sinh năm 1996. v ng m t

Địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện Đ, tỉnh B.

NHẬN THẤY:

Các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Thu G, Nguyễn Thị H, Nguyễn Hoàng A, Mai Thanh L, Đoàn Thị M, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị Thùy A, Trần Trung D và Trần Thị Mỹ N bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Ngày 06/6/2017, tại ấp T, xã M, huyện Đ, tỉnh L, Nguyễn Văn T c hành vi sử dụng địa điểm nhà của T để cho các đối tư ng đánh bài cào ăn thua b ng tiền, nh m mục đích thu tiền xâu. T thu tiền xâu đư c số tiền 300.000 đ ng. Nh ng người tham gia đánh bạc và đ t t 100.000 đ ng đ n 200.000 đ ng, bao g m: Nguyễn Thị Thu G, thua bài 2.078.000 đ ng; Nguyễn Thị H, thua bài 800.000 đ ng; Nguyễn Hoàng A, ăn bài 200.000 đ ng; Mai Thanh L, thua bài 300.000 đ ng; Đoàn Thị M, thua 150.000 đ ng; Nguyễn Thị H1, ăn bài 600.000 đ ng; Nguyễn Thị Thùy A, ăn bài 200.000 đ ng; Trần Trung D, ăn bài 700.000 đ ng; Trần Thị Mỹ N, thua bài 50.000 đ ng. Đ n khoảng 18 giờ ngày 06/6/2017, bị Công an huyện Đức Hòa b t quả tang.

Quá trình điều tra các đối tư ng đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau:

- Nguyễn Văn T khai: Ngày 06/6/2017, T dùng nhà của mình cho các đối tư ng đánh bài cào ăn thua b ng tiền, cụ thể g m: G làm cái 04 ván, đưa tiền xâu cho Tuyển là 50.000 đ ng; Trần Trung D làm cái 05 ván, đưa tiền xâu cho T là 100.000 đ ng; G và H1 hùn làm cái đưa tiền xâu cho T là 150.000 đ ng. Tổng cộng là 300.000 đ ng.

- Nguyễn Thị Thu G khai: Ngày 06/6/2017, G đ n nhà Nguyễn Văn T, mang theo số tiền 2.600.000 đ ng để sử dụng vào việc đánh bạc, làm cái chia bài 04 ván, đưa tiền xâu cho Nguyễn Văn T là 50.000 đ ng. Sau đ đưa bài cho Trần Trung D làm cái 04 ván, D đưa bài lại cho G hùn với Nguyễn Thị H1 làm cái đư c 08 ván, k t quả thua. Đ n khi đang chia bài thì bị Công an b t quả tang và tạm gi trên người của G số tiền 472.000 đ ng.

- Nguyễn Thị H khai: Ngày 06/6/2017, H đ n nhà Nguyễn Văn T, có mang theo số tiền 2.000.000 đ ng, H lấy ra 1.000.000 đ ng để sử dụng vào việc đánh bạc, còn lại 1.000.000 đ ng để dành mua thuốc uống, G làm cái 05 ván, thu đư c 800.000 đ ng, đưa tiền xâu cho T là 50.000 đ ng. Sau đ tham gia ng i đ t tụ 100.000 đ ng chưa th ng thua thì bị Công an b t quả tang và tạm gi trên người G số tiền 1.150.000 đ ng.

- Nguyễn Thị H1 khai: Ngày 06/6/2017, H1 đ n nhà của Nguyễn Văn T, có mang theo số tiền 800.000 đ ng để sử dụng vào việc đánh bạc, H1 hùn với Đoàn Thị M tham gia đ t tụ 05 ván bài, mỗi ván đ t 100.000 đ ng, thua 200.000 đ ng. Sau đ H1 hùn với G làm cái chia bài cho khoảng 08 tụ bài, mỗi tụ đ t 100.000 đ ng đ n 200.000 đ ng. K t quả H1 th ng bài đư c 600.000 đ ng. Đ n khi đang chia bài chưa th ng thua thì bị Công an b t quả tang và tạm gi trên người H1 số tiền 500.000 đ ng và 01 điện thoại di động.

- Nguyễn Hoàng A khai: Ngày 06/6/2017, Hoàng A đ n nhà của Nguyễn Văn T, có mang theo số tiền 1.500.000 đ ng. Hoàng A lấy ra 100.000 đ ng để sử dụng vào việc đánh bạc, còn lại 1.400.000 đ ng để trong b p mục đích đ ng tiền điện, Hoàng A tham gia đ t tụ đư c 07 ván, mỗi ván đ t t 100.000 đ ng đ n 200.000 đ ng, k t quả Hoàng A ăn đư c 200.000 đ ng. Đ n ván bài thứ 08, Hoàng A đ t 100.000 đ ng, khi đang chia bài chưa th ng thua thì bị Công an b t quả tang và tạm gi trên người của Hoàng A số tiền 1.400.000 đ ng.

- Nguyễn Thị Thùy A khai: Ngày 06/6/2017, Thùy A đ n nhà của Nguyễn Văn T, có mang theo 400.000 đ ng để sử dụng vào việc đánh bạc, Thùy A tham gia đ t tụ 02 ván bài, ván thứ nhất đ t 200.000 đ ng k t quả thua, ván thứ 02 đ t 200.000 đ ng, khi đang chia bài chưa th ng thua thì bị Công an b t quả tang và tạm gi trên người Nguyễn Thị Thùy A là 01 điện thoại di động hiệu Nokia, loại 1280.

- Mai Thanh L khai: Ngày 06/6/2017, L đ n nhà của Nguyễn Văn T, có mang theo 400.000 đ ng để sử dụng vào việc đánh bạc, L tham gia tất cả 04 ván bài, đ t mỗi ván 100.000 đ ng, 03 ván đầu, mỗi ván đ t 100.000 đ ng, thua h t 300.000 đ ng, đ n ván thứ 04 đ t 100.000 đ ng, khi đang chia bài chưa th ng thua thì bị Công an b t quả tang và tạm gi trên người L là 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh đỏ, sim số 0123 707 7779.

- Đoàn Thị M khai: Ngày 06/6/2017, M đ n nhà của Nguyễn Văn T, có mang theo số tiền 200.000 đ ng để sử dụng vào việc đánh bạc, M tham gia đ t tụ tất cả 07 ván, mỗi ván đ t 50.000 đ ng, k t quả c ăn c thua còn lại 50.000 đ ng. Đ n ván thứ tám, M tham gia đ t 50.000 đ ng, khi đang chia bài chưa th ng thua thì bị Công an b t quả tang, thu gi 01 điện thoại Nokia.

- Trần Trung D khai: Ngày 06/6/2017, D đ n nhà Nguyễn Văn T, có mang theo số tiền 2.300.000 đ ng. D lấy ra 300.000 đ ng sử dụng vào việc đánh bạc, còn 2.000.000 đ ng, D cất trong túi phía sau quần để sử dụng mua thuốc cho ba D bị bệnh. D tham gia đ t khoảng 20 ván, th ng đư c khoảng 300.000 đ ng đ n 400.000 đ ng. Sau đ D và Y chưa rõ nhân thân và địa chỉ hùn làm cái 05 ván, th ng đư c 700.000 đ ng. Đ n G và H1 làm cái thì D nghỉ không chơi. Sau đ vào đ t một ván bài 100.000 đ ng, đang chia bài chưa th ng thua thì bị Công an b t quả tang và tạm gi của D 700.000 đ ng tiền th ng bài và 2.000.000 đ ng trong túi sau quần.

- Trần Thị Mỹ N khai: Ngày 06/6/2017, N đ n nhà Nguyễn Văn T, mang theo số tiền 50.000 đ ng. N tham gia đ t 02 ván bài, ván thứ nhất đ t 50.000 đ ng, chưa phân k t quả vì phải chia lại bài. Đ n ván thứ hai N ti p tục đ t 50.000 đ ng, khi G và H1 đang làm cái chia bài chưa th ng thua thì bị Công an b t quả tang và tạm gi trên người N 01 điện thoại Oppo Neo 7.

Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đức Hòa đ thu gi các vật chứng vụ án, bao g m: Số tiền trên chi u bạc 9.180.000 đ ng; 06 bộ bài tây loại 52 lá; 01 tấm chi u, kích thước 02m x 03m; số tiền thu gi trên người các con bạc là 12.022.000 đ ng và 15 điện thoại di động các loại. Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đức Hòa đ xử lý một số vật chứng theo quy t định xử lý vật chứng số 60 ngày 20/7/2017 và các biên bản về việc trả lại tài sản t bút lục 403 đ n bút lục 415).

Còn lại các vật chứng chưa đư c Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đức Hòa xử lý bao g m:

+ Số tiền trên chi u bạc 9.180.000 đ ng;

+ Số tiền thu gi trên người các con bạc là 12.022.000 đ ng;

+ 06 bộ bài tây loại 52 lá;

+ 01 tấm chi u, kích thước 02m x 03m;

+ 01 điện thoại di động nh n hiệu Nokia 1110i, màu xanh, tr ng, thu gi của anh Nguyễn Công T;

+ 01 điện thoại di động hiệu Xphone X11 màu đỏ và 01 điện thoại di động hiệu Oppo R1001 màu tr ng thu gi của anh Đoàn Long H.

Hành vi của Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Thu G, Nguyễn Thị H, Nguyễn Hoàng A, Mai Thanh L, Đoàn Thị M, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị Thùy A, Trần Trung D, Trần Thị Mỹ N là nguy hiểm cho x hội, xâm phạm đ n trật tự công cộng và ảnh hưởng đ n trật tự an toàn x hội nên cần phải xử lý b ng pháp luật hình sự.

Bản cáo trạng số 112/QĐ-KSĐT ngày 11 tháng 9 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An đ truy tố các bị cáo như sau:

- Truy tố bị cáo Nguyễn Văn T, về tội gá bạc, theo quy định tại Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự;

- Truy tố các bị cáo: Nguyễn Thị Thu G, Nguyễn Thị H, Nguyễn Hoàng A, Mai Thanh L, Đoàn Thị M, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị Thùy A, Trần Trung D, Trần Thị Mỹ N, về tội đánh bạc, theo quy định tại Khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đều th a nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đ nêu và xin xem xét giảm nh hình phạt vì mới phạm tội lần đầu.

Bị cáo Nguyễn Văn T nêu ý ki n đề nghị đư c nhận lại số tiền 5.500.000đ không sử dụng vào mục đích đánh bạc, đ bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đức Hòa thu gi .

Bị cáo Nguyễn Thị H nêu ý ki n đề nghị đư c nhận lại số tiền 1.000.000đ không sử dụng vào mục đích đánh bạc, đ bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đức Hòa thu gi .

Bị cáo Nguyễn Hoàng A nêu ý ki n đề nghị đư c nhận lại số tiền 1.400.000đ không sử dụng vào mục đích đánh bạc, đ bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đức Hòa thu gi .

Bị cáo Trần Trung D nêu ý ki n đề nghị đư c nhận lại số tiền 2.000.000đ không sử dụng vào mục đích đánh bạc, đ bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đức Hòa thu gi .

Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát gi quyền công tố tại phiên Tòa sau khi công bố bản cáo trạng, qua xét hỏi công khai tại phiên Tòa, đ thay đổi một phần nội dung quy t định truy tố là: Chuyển truy tố bị cáo Nguyễn Văn T t tội gá bạc theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự sang tội nh hơn là tội đánh bạc theo Khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự.

Kiểm sát viên đ phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm x hội của hành vi vi phạm pháp luật mà các bị cáo gây ra; Đ ng thời căn cứ vào nhân thân, các tình ti t giảm nh trách nhiệm hình sự của các bị cáo như:

- Về nhân thân: Các bị cáo không c tình ti t tăng n ng trách nhiệm hình sự. Một số bị cáo n thì c con nhỏ, đông con, ch ng bệnh tật.

- Về tình ti t giảm nh : Các bị cáo đều thuộc trường h p “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đ “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Đây là các tình ti t giảm nh theo quy định tại điểm h, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Đoàn Thị M có bà nội là M Việt Nam anh hùng và 03 chú ruột là liệt sỹ; bị cáo Trần Trung D có cha đư c t ng Huân chương kháng chi n Hạng ba, c m đư c t ng Huy chương kháng chi n Hạng nhất; bị cáo Trần Thị Mỹ N c bác ruột là liệt sỹ. Đây đư c xem là các tình ti t giảm nh theo quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

T nh ng tình ti t đ , thấy r ng không cần thi t phải áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi x hội một thời gian, mà chỉ cần áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân c ích cho x hội. T đ , đề nghị Hội đ ng xét xử quy t định về tội phạm và hình phạt như sau:

- Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Thu G, Nguyễn Thị H, Nguyễn Hoàng A, Mai Thanh L, Đoàn Thị M, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị Thùy A, Trần Trung D và Trần Thị Mỹ N phạm tội đánh bạc.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm h, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 20, Điều 30 và Điều 53 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức hình phạt tiền t 10 triệu đ n 15 triệu đ ng.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm h, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 20, Điều 30 và Điều 53 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu G mức hình phạt tiền t 10 triệu đ n 15 triệu đ ng.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm h, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 20, Điều 30 và Điều 53 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H mức hình phạt tiền t 10 triệu đ n 15 triệu đ ng.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm h, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 20, Điều 30 và Điều 53 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng A mức hình phạt tiền t 10 triệu đ n 15 triệu đ ng.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm h, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 20, Điều 30 và Điều 53 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mai Thanh L mức hình phạt tiền t 05 triệu đ n 10 triệu đ ng.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm h, điểm p khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 46, Điều 20, Điều 30 và Điều 53 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Thị M mức hình phạt tiền t 05 triệu đ n 10 triệu đ ng.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm h, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 20, Điều 30 và Điều 53 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H1 mức hình phạt tiền t 05 triệu đ n 10 triệu đ ng.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm h, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 20, Điều 30 và Điều 53 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy A mức hình phạt tiền t 05 triệu đ n 10 triệu đ ng.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm h, điểm p khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 46, Điều 20, Điều 30 và Điều 53 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Trung D mức hình phạt tiền t 05 triệu đ n 10 triệu đ ng.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm h, điểm p khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 46, Điều 20, Điều 30 và Điều 53 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị Mỹ N mức hình phạt tiền t 05 triệu đ n 10 triệu đ ng.

Về tang vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự, Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 06 bộ bài tây, loại bài tây 52 lá và 01 tấm chi u kích thước 02m x 03m. Các vật chứng này hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/9/2017.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc bao g m: 9.180.000đ thu gi trên chi u bạc và 2.122.000đ thu gi trong người các bị cáo, c mục đích dùng để đánh bạc. Tổng cộng là 11.302.000đ. Số tiền này đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa quản lý theo biên lai thu số 02839 ngày 13/9/2017.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T số tiền 5.500.000đ không sử dụng vào mục đích đánh bạc, đư c khấu tr vào số tiền bị cáo T bị phạt; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị H số tiền 1.000.000đ không sử dụng vào mục đích đánh bạc, đư c khấu tr vào số tiền bị cáo H bị phạt; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng A số tiền 1.400.000đ không sử dụng vào mục đích đánh bạc, đư c khấu tr vào số tiền bị cáo Hoàng A bị phạt; Trả lại cho bị cáo Trần Trung D số tiền 2.000.000đ không sử dụng vào mục đích đánh bạc, đư c khấu tr vào số tiền bị cáo D bị phạt. Số tiền này đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa quản lý theo biên lai thu số 02839 ngày 13/9/2017.

- Hoàn trả lại cho: anh Nguyễn Công T 01 điện thoại di động hiệu Nokia loại 1110i, màu xanh, tr ng; anh Đoàn Long H 01 điện thoại di động hiệu Xphone X11 màu đỏ và 01 điện thoại di động hiệu Oppo R1001 màu tr ng. Các tài sản này hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/9/2017.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY:

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Thu G, Nguyễn Thị H, Nguyễn Hoàng A, Mai Thanh L, Đoàn Thị M, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị Thùy A, Trần Trung D, Trần Thị Mỹ N đ th a nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đ truy tố. Bị cáo Nguyễn Văn T xác định Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đ truy tố bị cáo về tội gá bạc, sau đ chuyển tội danh sang tội đánh bạc với vai trò đ ng phạm là đúng người, đúng tội, không oan. Các bị cáo Nguyễn Thị Thu G, Nguyễn Thị H, Nguyễn Hoàng A, Mai Thanh L, Đoàn Thị M, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị Thùy A, Trần Trung D, Trần Thị Mỹ N thống nhất xác định Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo về tội đánh bạc là đúng người, đúng tội, không oan.

Đối với hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận vào ngày 06/6/2017 đ c hành vi cho các đối tư ng mư n nhà của mình để đánh bài cào ăn thua b ng tiền, để thu tiền xâu. Số tiền bị cáo T thu đư c là 300.000đ. Số con bạc tham gia đánh bạc tại nhà của T vào chiều ngày 06/6/2017 c tổng cộng là 12 người. Tuy nhiên, tại thời điểm bị b t quả tang thì chỉ c 09 con bạc đang tham gia đánh bạc, 03 con bạc còn lại đ nghỉ tham gia đánh bạc t trước đ . Do đ , đối chi u quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, đư c hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 2 Nghị quy t 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22 tháng 10 năm 2010 của Hội đ ng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248 và Điều 249 Bộ luật Hình sự thì hành vi của bị cáo T chưa đ n mức để truy tố về tội gá bạc. Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 2 Nghị quy t 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22 tháng 10 năm 2010 của Hội đ ng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248 và Điều 249 Bộ luật Hình sự thì hành vi của bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự về đ ng phạm tội đánh bạc. Trước Tòa, bị cáo T đ khai nhận tội, lời khai này phù h p với biên bản b t người phạm tội quả tang ngày 06/6/2017, phù h p lời khai của nh ng người làm chứng, phù h p tang vật chứng thu gi , phù h p với các lời khai khác của bị cáo thể hiện trong h sơ, đ đư c thẩm tra xác minh công khai tại phiên Tòa. T đ , Hội đ ng xét xử c đủ cơ sở k t luận bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc” với vai trò đ ng phạm, tội phạm và hình phạt đư c quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát gi quyền công tố tại phiên Tòa thay đổi một phần nội dung quy t định truy tố là chuyển truy tố bị cáo Nguyễn Văn T t tội gá bạc theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự sang tội nh hơn là tội đánh bạc theo Khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự là phù h p quy định của pháp luật và c l i cho bị cáo T, nên Hội đ ng xét xử chấp nhận.

Đối với hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị Thu G, Nguyễn Thị H, Nguyễn Hoàng A, Mai Thanh L, Đoàn Thị M, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị Thùy A, Trần Trung D và Trần Thị Mỹ N, Hội đồng xét xử xét thấy:

Lời khai nhận tội của t ng bị cáo về hành vi phạm tội đều phù h p với biên bản b t người phạm tội quả tang ngày 06/6/2017, phù h p lời khai của nh ng người làm chứng, phù h p tang vật chứng thu gi , phù h p với các lời khai khác của các bị cáo thể hiện trong h sơ, đ đư c thẩm tra xác minh công khai tại phiên Tòa. T đ , Hội đ ng xét xử c đủ cơ sở k t luận các bị cáo Nguyễn Thị Thu G, Nguyễn Thị H, Nguyễn Hoàng A, Mai Thanh L, Đoàn Thị M, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị Thùy A, Trần Trung D và Trần Thị Mỹ N phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt đư c quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 112/QĐ-KSĐT ngày 11 tháng 9 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Thu G, Nguyễn Thị H, Nguyễn Hoàng A, Mai Thanh L, Đoàn Thị M, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị Thùy A, Trần Trung D và Trần Thị Mỹ N về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự quy định: “Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm”.

Hành vi vi phạm pháp luật của các bị cáo là nguy hiểm cho x hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm trật tự an toàn công cộng đư c Nhà nước bảo vệ, là một trong nh ng nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Hành vi phạm tội của các bị cáo cần đư c xử lý b ng pháp luật Hình sự với mức án nghiêm là điều cần thi t, phù h p với công tác đấu tranh, phòng chống các loại tội phạm về xâm phạm trật tự công cộng hiện nay. Tuy nhiên, khi quy t định hình phạt cần xem xét đ n chính sách hình sự của Nhà nước đối với loại tội phạm xâm phạm trật tự an toàn công cộng hiện nay, xem xét đầy đủ toàn diện các y u tố về nhân thân, các tình ti t tăng n ng, giảm nh trách nhiệm hình sự của t ng bị cáo. Để đảm bảo đạt mục đích của hình phạt là không chỉ nh m tr ng trị các bị cáo mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy t c của cuộc sống, ngăn ng a họ phạm tội mới, giáo dục họ tôn trọng pháp luật, phòng ng a và đấu tranh chống tội phạm.

Xét tính chất và hành vi phạm tội của từng bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

- Đối với bị cáo T: Xuất phát t việc tham lam, muốn c tiền tiêu xài mà không phải bỏ công sức lao động một cách h p pháp nên đ thực hiện hành vi phạm tội. Chính việc bị cáo T đ ng ý sử dụng nhà của mình cho các bị cáo khác thực hiện hành vi đánh bạc trái phép để lấy tiền xâu, dẫn đ n c nhiều bị cáo khác bị xem xét trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc trái phép. Tuy nhiên, số tiền bị cáo T thu l i bất chính là không lớn, chỉ là 300.000đ và cũng đ bị thu h i.

- Đối với các bị cáo còn lại là Nguyễn Thị Thu G, Nguyễn Thị H, Nguyễn Hoàng A, Mai Thanh L, Đoàn Thị M, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị Thùy A, Trần Trung D và Trần Thị Mỹ N cũng xuất phát t bản tính tham lam, lười lao động, muốn c tiền tiêu xài mà không phải lao động h p pháp nên đ thực hiện hành vi phạm tội. Số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc ho c mang theo nh m mục đích để đánh bạc cũng không lớn (bị cáo G là 2.600.000đ, bị cáo H là 1.000.000đ, bị cáo H1 là 800.000đ, bị cáo Hoàng A là 100.000đ, bị cáo Thùy A là 400.000đ, bị cáo L là 400.000đ, bị cáo M là 200.000đ, bị cáo D là 300.000đ, bị cáo N là 50.000đ).

Xét về nhân thân của các bị cáo: Tất cả các bị cáo đều c nhân thân tốt, chưa c tiền án hay tiền sự. Các bị cáo n đều đông con, một số thì con còn nhỏ, ch ng bệnh tật. Bên cạnh đ , bị cáo Trần Trung D đang là sinh viên theo học tại Trường Đại học N; Bị cáo Nguyễn Thị Thu G, Nguyễn Thị Thùy A và Trần Thị Mỹ N đang làm công nhân.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, thấy rằng:

+ Về tình tiết tăng nặng: Tất cả các bị cáo đều không c tình ti t tăng n ng trách nhiệm hình sự.

+ Về tình tiết giảm nhẹ: Tất cả các bị cáo đều c 02 tình ti t giảm nh đư c quy định tại điểm h (phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng), điểm p (Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Bên cạnh đ , bị cáo Đoàn Thị M c bà nội là M Việt Nam anh hùng và 03 chú ruột là liệt sỹ; bị cáo Trần Trung D c cha đư c t ng Huân chương kháng chi n Hạng ba, c m đư c t ng Huy chương kháng chi n Hạng nhất; bị cáo Trần Thị Mỹ N có bác ruột là liệt sỹ. Đây đư c xem là các tình ti t giảm nh theo quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Vì vậy, Hội đ ng xét xử thấy chỉ cần xử phạt các bị cáo hình phạt tiền cũng đủ để giáo dục các bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy t c của cuộc sống, ngăn ng a họ phạm tội mới, giáo dục họ tôn trọng pháp luật, phòng ng a và đấu tranh chống tội phạm. Mức đề nghị hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đối với các bị cáo tại phiên Tòa là c căn cứ nên Hội đ ng xét xử ghi nhận.

Về xử lý tang vật chứng: Đề nghị xử lý tang vật chứng của Kiểm sát viên là c căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đ ng xét xử chấp nhận.

Đối với các tài sản mà Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đức Hòa thu gi và đ xử lý theo quy t định xử lý vật chứng số 60 ngày 20/7/2017 và các biên bản về việc trả lại tài sản t bút lục 403 đ n bút lục 415 . Không ai c ý ki n, yêu cầu gì đối với các tài sản này, nên Hội đ ng xét xử không xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quy t 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, mức án phí mỗi bị cáo phải nộp là 200.000đ, sung công quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Thu G, Nguyễn Thị H, Nguyễn Hoàng A, Mai Thanh L, Đoàn Thị M, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị Thùy A, Trần Trung D và Trần Thị Mỹ N phạm tội đánh bạc.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm h, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 20, Điều 30 và Điều 53 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức hình phạt tiền là 10 triệu đ ng.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm h, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 20, Điều 30 và Điều 53 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu G mức hình phạt tiền là 10 triệu đ ng.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm h, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 20, Điều 30 và Điều 53 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H mức hình phạt tiền là 10 triệu đ ng.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm h, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 20, Điều 30 và Điều 53 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng A mức hình phạt tiền là 10 triệu đ ng.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm h, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 20, Điều 30 và Điều 53 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mai Thanh L mức hình phạt tiền là 05 triệu đ ng.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm h, điểm p khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 46, Điều 20, Điều 30 và Điều 53 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Thị M mức hình phạt tiền là 05 triệu đ ng.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm h, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 20, Điều 30 và Điều 53 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H1 mức hình phạt tiền là 10 triệu đ ng.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm h, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 20, Điều 30 và Điều 53 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy A mức hình phạt tiền là 05 triệu đ ng.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm h, điểm p khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 46, Điều 20, Điều 30 và Điều 53 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Trung D mức hình phạt tiền là 05 triệu đ ng.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm h, điểm p khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 46, Điều 20, Điều 30 và Điều 53 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị Mỹ N mức hình phạt tiền là 05 triệu đ ng.

- Về tang vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự, Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy 06 bộ bài tây, loại bài tây 52 lá và 01 tấm chi u kích thước 02m x 03m. Các vật chứng này hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/9/2017.

+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc bao g m: 9.180.000đ thu gi trên chi u bạc và 2.122.000đ thu gi trong người các bị cáo, c mục đích dùng để đánh bạc. Tổng cộng là 11.302.000đ. Khoản tiền phải tịch thu sông công quỹ Nhà nước này n m trong số tiền 21.202.000đ đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa quản lý theo biên lai thu số 02839 ngày 13/9/2017.

+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T số tiền 5.500.000đ không sử dụng vào mục đích đánh bạc; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị H số tiền 1.000.000đ không sử dụng vào mục đích đánh bạc; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng A số tiền 1.400.000đ không sử dụng vào mục đích đánh bạc; Trả lại cho bị cáo Trần Trung D số tiền 2.000.000đ không sử dụng vào mục đích đánh bạc. Các khoản tiền phải hoàn trả này n m trong số tiền 21.202.000đ đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa quản lý theo biên lai thu số 02839 ngày 13/9/2017 và đư c khấu tr vào khoản hình phạt tiền của bị cáo T, bị cáo H, bị cáo Hoàng A và bị cáo D trong giai đoạn thi hành án.

+ Hoàn trả lại cho: Anh Nguyễn Công T 01 điện thoại di động hiệu Nokia loại 1110i, màu xanh, tr ng; Anh Đoàn Long H 01 điện thoại di động hiệu Xphone X11 màu đỏ và 01 điện thoại di động hiệu Oppo R1001 màu tr ng. Các tài sản này hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/9/2017.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 6, khoản 1 Điều 23 Nghị quy t 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Thu G, Nguyễn Thị H, Nguyễn Hoàng A, Mai Thanh L, Đoàn Thị M, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị Thùy A, Trần Trung D và Trần Thị Mỹ N mỗi người nộp 200.000đ án phí, sung vào công quỹ Nhà nước.

- Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo đư c quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án. Người c quyền l i, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Công T, anh Đoàn Long H đư c quyền kháng cáo phần bản án sơ thẩm liên quan đ n quyền l i, nghĩa vụ của anh T, anh H trong thời hạn 15 ngày kể t ngày bản án đư c giao ho c đư c niêm y t theo quy định của pháp luật.

“Trường h p bản án, quy t định đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người đư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự c quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c bị cưỡng ch thi hành án theo quy định các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ