vanban.org

Bản án 120/2017/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 29/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự sơ thẩm - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN H. TÂN THÀNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 120/2017/HS-ST
Ngày: 29 - 9 - 2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THÀNH, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Cao Xuân Long

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Nguyễn Đình Hoàng

2.Bà Phạm Thị Hiền

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Ông Đặng Quang Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2017, tại Trụ sở Trung tâm văn hóa học tập cộng đồng xã Hắc Dịch, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 119/2017/HS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:

Huỳnh Ngọc X, sinh năm 1997, tại: Bà Rịa – Vũng Tàu; trú tại: Tổ X, thị trấn Y, huyện Z, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 05/12; cha Huỳnh Văn L, sinh năm 1966 và mẹ Lê Thị Kiều T (đã chết); tiền án: không; tiền sự: không;

Bị cáo đang bị tạm giam từ ngày 31/3/2017 (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Bị hại:

Anh Nguyễn Sơn L, sinh năm 1994; trú tại: Ấp X, xã Y, huyện Z, tỉnh Kiên Giang (đã chết);

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Duy K, sinh năm 1968; địa chỉ: Ấp X, xã Y, huyện Z, tỉnh Kiên Giang - là cha của bị hại L (vắng mặt);

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Duy K, sinh năm 1968; địa chỉ: Ấp X, xã Y, huyện Z, tỉnh Kiên Giang - là cha của bị hại L (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Huỳnh Ngọc X bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 00 giờ 45 phút ngày 31/03/2017 Huỳnh Ngọc X điều khiển xe mô tô biển số: 68L1-08091 chở theo anh Nguyễn Sơn L, SN: 1994; HKTT: Ấp X, xã Y, huyện Z, Kiên Giang, lưu thông trên đường quốc lộ 51, theo hướng thành phố Hồ Chí Minh đi thành phố Bà Rịa. Đến khu vực khoảng mở trước nhà thờ Phước Lộc thuộc ấp Phước Lộc xã Tân Phước, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. X điều khiển xe chuyển hướng qua khoảng mở dải phân cách, do không làm chủ tốc độ tay lái đã đụng vào dải phân cách gây tai nạn giao thông. Hậu quả: Anh Nguyễn Sơn L bị thương nặng và chết lúc 10 giờ 30 phút ngày 02/04/2017 tại bệnh viện Bà Rịa.

Hiện trường vụ tai nạn xảy ra bên phần đường bên phải quốc lộ 51 theo hướng lưu thông từ thành phố Bà Rịa đi thành phố Hồ Chí Minh. Mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, có vạch sơn trắng chia phần đường thành 04 làn đường riêng biệt. Chính giữa đường có giải phân cách cứng chia làn đường thành hai chiều lưu thông riêng biệt.

Chọn lề đường bên phải quốc lộ 51 theo hướng từ thành phố Bà Rịa đi thành phố Hồ Chí Minh làm lề chuẩn, lấy trụ điện ký hiệu TTH09 bên trong lề chuẩn làm điểm cố định. Quá trình khám nghiệm phát hiện các dấu vết, phương tiện như sau:

- Vị trí xe mô tô 68L1-08091: Sau khi tai nạn xe nằm nghiêng qua phải, đầu xe quay đi hướng tp. Hồ Chí Minh, đuôi xe quay về hướng tp. Vũng Tàu. Tâm trục bánh trước cách lề chuẩn 4,68m, tâm trục bánh sau xe cách lề chuẩn 5m. Xe mô tô để lại vết cày in hằn xuống mặt đường, đầu vết cày cách lề chuẩn 11,75m, cách lốc máy xe mô tô 68L1-08091 là 12,27m, đầu vết cày kéo dài theo hướng đi thành phố Hồ Chí Minh. Lốc máy xe mô tô đo đến trụ điện TTh09 17,9m.

- Vị trí vết bể bờ thành bê tông: Tại dải phân cách vùng có bết bể bờ thành bê tông do xe mô tô 68L1-08.091 va quẹt tạo ra cách đầu vết cày là 6,23m cách vị trí lốc xe máy mô tô 68L1-08091 là 18,55m.

- Vị trí dép người bị nạn: Nằm cách lề chuẩn 13,37m, nằm cách vị trí lốc máy xe mô tô 68L1-08091 là 12,95m.

- Vị trí vết nhớt xe mô tô 68L1-08091 nằm cách lề chuẩn 9,35m nằm cách lốc xe máy 68L1-08091 là 7,26m.

Tại bản kết luận giám định pháp y số: 94/PC54-Đ4 ngày 19/05/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BR-VT đã kết luận: Nguyễn Sơn L chết do chấn thương sọ não: Nứt não, dập-chảy máu não, phù não. Vật tác động gay chết là vật tày, diện tiếp xúc rộng, tác động trực tiếp vào vùng đầu cơ thể nạn nhân theo hướng từ phải qua trái.

Nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông là do Huỳnh Ngọc X điều khiển xe mô tô 68L1-080.91 chở theo Nguyễn Sơn L không làm chủ tốc độ tay lái khi chuyển hướng, tự gây tai nạn giao thông làm chết Nguyễn Sơn L. Hành vi của Huỳnh Ngọc X đã vi phạm Điều 12, Điều 15 Luật giao thông đường bộ.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, gia đình Huỳnh Ngọc X đã bồi thường cho gia đình nạn nhân Nguyễn Sơn L số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng). Gia đình Nguyễn Sơn L không có yêu cầu gì thêm về vấn đề dân sự.

Về xử lý vật chứng: Ngày 02/08/2017 Cơ quan CS ĐT Công an huyện Tân Thành đã trả lại chiếc xe ô tô BS 68L1-080.91 cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Duy K, SN: 1968, HKTT: Ấp X, xã Y, huyện Z, tỉnh Kiên Giang theo quyết định xử lý vật chứng số 75/QĐ ngày 02/08/2017.

Tại bản cáo trạng số 121/CT-VKS ngày 11/9/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Huỳnh Ngọc X về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, trên cơ sở việc hỏi và tranh luận giữa những người tham gia tố tụng công khai, dân chủ và không bị hạn chế:

Bị cáo X khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố, công nhận Viện kiểm sát tr uy tố đúng tội danh, không oan. Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Ý kiến của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên cáo trạng truy tố; xác định bị cáo X đã có hành vi điều khiển xe mô tô 68L1-080.91 chở theo anh Nguyễn Sơn L, chuyển hướng không làm chủ tốc độ tay lái, đụng vào dải phân cách gây tai giao thông; hậu quả: Anh Nguyễn Sơn L tử vong. Hành vi đó của bị cáo cấu thành tội: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” được quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 202, điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc X mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù. Xử lý vật chứng: đã giải quyết xong.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tội danh:

Khoảng 00 giờ 45 phút ngày 31/03/2017, tại ấp Phước Lộc, xã Tân Phước, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Huỳnh Ngọc X đã có hành vi điều khiển xe mô tô 68L1-080.91 chở theo anh Nguyễn Sơn L, chuyển hướng không giảm tốc độ, không làm chủ tay lái, đã đụng vào dải phân cách gây tai giao thông; hậu quả anh Nguyễn Sơn L tử vong. Nguyên nhân xảy ra tai nạn do lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo. Hành vi trên của bị cáo X đã vi phạm vào khoản 1 Điều 15 Luật giao thông đường bộ, đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” được quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người điều khiển xe, nhưng không chấp hành pháp luật khi tham gia giao thông nên gây tai nạn, mặc dù bị cáo không mong muốn hậu quả xảy ra nhưng hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến tính mạng, tài sản của người bị hại, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn giao thông tại địa phương. Vì vậy cần có hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội do lỗi vô ý; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải ; đã bồi thường cho gia đình bị hại 3.000.000 đồng khắc phục hậu quả, gia đình bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo, nên áp dụng điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo X.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Ông Nguyễn Duy K đã nhận lại xe, không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tổng hợp hình phạt: Ngày 06 – 9 – 2017, Toà án nhân dân huyện Tân Thành đã xét xử sơ thẩm bị cáo Huỳnh Ngọc X về tội phạm khác bằng bản án số 91/2017/HS-ST, hiện nay bản án này chưa có hiệu lực pháp luật; nên Hội đồng xét xử không tổng hợp hình phạt. Việc tổng hợp hình phạt sẽ thực hiện sau khi các bản án có hiệu lực pháp luật và theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

́

QUYÊT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Ngọc X phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”;

1. Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999;

Xử phạt: bị cáo Huỳnh Ngọc X 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/3/2017.

2. Án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

Bị cáo X phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng ) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án (đối với người vắng mặt thời hạn trên tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ) để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ