- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp Hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Ng: Chị Phạm Thị Ng được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án: 12/2018/HNGĐ-ST Ngày 31 tháng 5 năm 2018 V/v: “Hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quốc Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phương, Ông Nguyễn Đức Túc
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Hoàng Quốc Khánh, cán bộ Toà án nhân dân huyện Sông Lô.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyên Sông Lô tham gia phiên toà: Ông Dương Mạnh Cường, kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 06/2018/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2018 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2018/QĐST - HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: chị Phạm Thị Ng, sinh năm 1976 (có mặt)
Bị đơn: anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1977 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: thôn V, xã T, huyện S, tỉnh V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 12 tháng 01 năm 2018 và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phạm Thị Ng trình bày: chị kết hôn với anh Nguyễn Văn H ngày 26/12/2003. Trước khi cưới được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện S. Cưới xong vợ chồng đi làm ăn ngay. Quá trình vợ chồng chung sống hoà thuận đến tháng 8/2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, anh H nhiều lần đánh đập chị. Hai bên gia đình đã nhiều lần khuyên bảo nhưng không được. Vợ chồng sống ly thân từ cuối tháng 12/2017 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị xin được ly hôn với anh H.
Về con chung: vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 28/10/2004 và cháu Nguyễn Hồng Ph, sinh ngày 26/6/2014. Hiện nay cháu Ph đang ở cùng chị, cháu L đang ở cùng với anh H. Ly hôn chị xin được nuôi cả hai con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ và công sức: chị không đề nghị Toà án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn H tại phiên tòa vắng mặt nhưng trong quá trình giải quyết vụ án anh trình bày: về thời gian kết hôn như chị Ng trình bày là đúng. Sau khi cưới vợ chồng anh đi làm ăn ngay. Quá trình vợ chồng chung sống hòa thuận đến tháng 01/2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm nên xảy ra cãi chửi nhau, anh có tát chị Ng một, hai cái. Sau đó chị Ng bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, anh có gọi điện thoại để dàn xếp vợ chồng về đoàn tụ nhưng chị Ng không về. Nay chị Ng xin ly hôn anh, anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh xin được đoàn tụ để vợ chồng về nuôi dạy con cái.
Về con chung: vợ chồng anh có 02 con chung như chị Ng trình bày là đúng. Ly hôn anh xin được nuôi cả hai con và yêu cầu chị Ng cấp dưỡng nuôi con 1.000.000đ/01 tháng/ 02 con.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ và công sức: anh không đề nghị Toà án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô phát biểu quan điểm về việc tuân thủ các quy định tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của đương sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 quy định về Phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Ng, cho chị Phạm Thị Ng được ly hôn anh Nguyễn Văn H. Đề nghị giao cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hồng Ph, sinh ngày 26/6/2014, giao cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 28/10/2004. Hiện nay cháu Ph đang ở cùng chị Ng, cháu L đang ở cùng anh H. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Ng khởi kiện anh H tranh chấp về quan hệ hôn nhân và gia đình. Chị Ng có quyền khởi kiện yêu cầu ly hôn anh H. Bị đơn anh H có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại thôn V, xã T, huyện S nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân huyện Sông Lô. Các đương sự tham gia tố tụng đảm bảo năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự. Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử xác định thủ tục tố tụng trong vụ án đảm bảo theo các quy định tại các Điều 28, 39, 69, 186 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Ngt với anh H là hôn nhân hợp pháp có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện S, tỉnh V. Quá trình chung sống anh, chị đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, anh H có đánh chị Ng. Anh H xác định vợ chồng anh chị mới mâu thuẫn từ đầu năm 2018, anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh xin được đoàn tụ, tuy nhiên chị Ng kiên quyết xin ly hôn, chị xác định vợ chồng đã mâu thuẫn một thời gian dài. Quá trình giải quyết vụ án của con anh H, chị Ng xác định việc mâu thuẫn của anh chị đã diễn ra thường xuyên và anh Hùng nhiều lần đánh đập chị Ng. Mặt khác anh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do thể hiện việc anh xin đoàn tụ là không thực tâm. Vì vậy việc chị Ng xin ly hôn anh H là có căn cứ. Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ng cho chị Ng ly hôn anh H.
Về con chung: Chị Ng, anh H xác nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 28/10/2004 và cháu Nguyễn Hồng Ph, sinh ngày 26/6/2014. Hiện nay cháu Ph đang ở cùng chị Ng, cháu L đang ở cùng anh H. Ly hôn hai bên đều xin được nuôi cả hai con, chị Ng không yêu cầu anh H cấp dưỡng, anh H yêu cầu chị Ng cấp dưỡng nuôi con 1.000.000đ/01 tháng/ 02 con. Xét thấy hiện nay chị Ng, anh H đều có nguyện vọng được nuôi con, anh chị đều có chỗ ở, thu nhập ổn định đủ điều kiện nuôi con. Hiện nay cháu Ph còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ. Cháu Ph đang ở với chị Ng, cháu L đang ở với anh H ổn định. Do vậy Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Ph cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu L cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng là đảm bảo cho sự phát triển của cháu L và cháu Ph, phù hợp với các Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ và công sức: Các bên không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Phạm Thị Ng phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 quy định về Phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Ng: Chị Phạm Thị Ng được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
2. Về con chung: Giao cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hồng Ph, sinh ngày 26/6/2014; anh H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 28/10/2004. Hiện nay cháu Ph đang ở cùng chị Ng, cháu L đang ở cùng anh H. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn việc thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Phạm Thị Ng phải chịu 300.000đ nhưng được trừ số tiền 300.000đ chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số AA/2016/0004652 ngày 15/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Lô. Chị Ng đã nộp đủ án phí.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện Sông Lô; - THA huyện Sông Lô; - Đương sự; - UBND xã T; - Lưu HS, VP. Các Hội thẩm nhân dân | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã kí) Trần Quốc Hồng Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Quốc Hồng |