- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Anh Trương Thanh H và chị Mai Thị Hằng G tranh chấp hợp đồng vay tài sản với Công ty H"
- Tòa quyết gì? Sữa chữa bổ sung bản án 12/2018/DS - ST ngày 31/7/2018 của Toà án nhân
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ LÀO CAI
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH LÀO CAI Bản án số: 12 /2018/DS – ST Ngày 31 tháng 7 năm 2018. V/v Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản;
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Duy Chiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Bích Thủy - Thư ký Toà án nhân dân thành
phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai
tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai xét
xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 09/2018/TLST - DS ngày 22 tháng 01 năm 2018 về Tranh chấp “ Hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2018/QĐXXST - DS ngày 28 tháng 6 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2018/QĐST – DS ngày 16 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Anh Trương Thanh H và chị Mai Thị Hằng G.
Cùng địa chỉ: Số nhà 030, đường C, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D.
Địa chỉ: Tổ 1, thị trấn S, huyện S, thành phố Hà Nội. Có mặt.
2. Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên H.
Địa chỉ công ty: Số nhà 034, đường T phường B, thành phố L, tỉnh Lào
Cai.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng Th, chức vụ: Giám
đốc.
Địa chỉ: Số nhà 110, đường H, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng
mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 15/01/2018 nguyên đơn anh Trương Thanh H và chị
Mai Thị Hằng Gvà quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Do chỗ quen biết làm ăn với ông Nguyễn Hoàng Th, giám đốc Công ty
Trách nhiệm hữu hạn một thành viên H nên khi Công ty cần tiền để làm dự án ông Thái hỏi vay tiề, anh Trương Thanh H và chị Mai Thị Hằng Gđồng ý cho vay, n ngày 03/4/2017 cho vay số tiền 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng), hẹn 3 tháng thì trả, ngày 11/4/2017 cho vay số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) hẹn đến ngày 22/4/2017 thì trả. Cả hai lần vay đều viết giấy vay tiền ông Nguyễn Hoàng Th có ký và đóng dấu của Công ty vào giấy vay tiền, ngoài ra còn có chữ ký của chị Nguyễn Thị Hằng là vợ của ông Nguyễn Hoàng Th ký là người làm chứng. Đến hẹn anh Trương Thanh H và chị Mai Thị Hằng Gđã đòi nhiều lần nhưng Công ty H với lý do chưa nhận được tiền công trình nên chưa trả. Nay anh Trương Thanh H và chị Mai Thị Hằng Gyêu cầu Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên H phải trả lại số tiền là 1.300.000.000đ (một tỷ ba trăm triệu đồng) không tính lãi.
Đối với bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên H có địa chỉ tại số nhà 034, đường Trần Hưng Đạo, phường Bắc Cường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai và ông Nguyễn Hoàng Th, giám đốc Công ty có địa chỉ số nhà 110, đường Hàm Nghi, phường Kim Tân, thành phố Lào Cai do Công ty thường xuyên không hoạt động và người đại diện anh Nguyễn Hoàng Th không có mặt tại nơi cư trú, vì vậy Toà án không thể thực hiện được việc tống đạt các văn bản tố tụng, đã làm thủ tục niêm yết theo qui định của pháp luật nhưng Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên H không đến và không có văn bản trả lời.
Tại phiên tòa anh Trương Thanh H và chị Mai Thị Hằng Gvẫn giữ nguyên
quan điểm khoản nợ ở trên là nợ của Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên H và yêu cầu Tòa án buộc Công ty phải trả cho anh chị.
Tại phiên toà hôm nay Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai có quan
điểm: Thẩm phán, hội đồng xét xử giải quyết vụ án dân sự tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, đảm bảo việc giải quyết vụ án dân sự kịp thời, thu thập chứng cứ đúng theo qui định pháp luật. Thư ký phiên toà và nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 463, 465, 466 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án.Chấp nhận chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên H phải trả cho nguyên đơn 1.300.000.000đ (một tỷ ba trăm triệu đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn anh Trương Thanh H và chị Mai Thị Hằng G
khởi kiện bị đơn là Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên H (sau đây gọi tắt là Công ty H) phải trả số tiền nợ 1.300.000.000đ (một tỷ ba trăm triệu đồng) theo giấy vay tiền lập ngày 03/4/2017 và ngày 11/4/2017, như vậy đây là tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn Công ty H có trụ sở tại thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai thụ lý vụ án giải quyết là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa bị đơn Công ty H vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được
Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ; Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt Công ty H.
Về nội dung khởi kiện:
Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan điểm như đơn khởi kiện.
Qua các tài liệu do nguyên đơn cung cấp tại giấy vay tiền lập ngày
03/4/2017 và ngày 11/4/2017 đều có chữ ký của anh Nguyễn Hoàng Th và dấu của Công ty H, ngoài ra còn có chữ ký của chị Nguyễn Thị Hằng, trong quá trình giải quyết thì người đại diện theo ủy quyền của anh Trương Thanh H và chị Mai Thị Hằng G xác nhận chị Nguyễn Thị H là vợ của anh Nguyễn Hoàng Th, việc chị Hằng có tên trong giấy vay tiền ở trên với tư cách là người làm chứng không liên quan đến việc vay tiền, khi đặt vấn đề vay tiền là anh Nguyễn Hoàng Th, đến vay tiền cho Công ty với lý do làm dự án xây dựng hành lang vỉa hè trên địa bàn thị trấn Sa Pa, huyện Sa Pa.
Trong quá trình Toà án giải quyết Tòa án đã giao thông báo thụ lý vụ án
cho Công ty H và người trực tiếp nhận là anh Nguyễn Hoàng Th, nhưng Công ty H không có văn bản trả lời, Tòa án đã triệu tập chị Nguyễn Thị Hằng, chị Nguyễn Thị Hằng trực tiếp nhận giấy triệu tập nhưng chị Hằng không đến. Trong quá trình giải quyết do Công ty H thường xuyên không hoạt động, người đại diện theo pháp luật thường xuyên không có mặt tại nơi cư trú, Toà án đã niêm yết các văn bản tố tụng theo qui định của pháp luật nhưng Công ty H không đến và không có văn bản trả lời. Như vậy Công ty H và trực tiếp là người đại diện theo pháp luật anh Nguyễn Hoàng Th, chức vụ Giám đốc Công ty đã nhận được thông báo thụ lý vụ án, chị Nguyễn Thị H là vợ của anh Nguyễn Hoàng Th cũng đã nhận được giấy triệu tập, đã biết về nội dung anh Trương Thanh H và chị Mai Thị Hằng Gkhởi kiện về khoản nợ 1.300.000.000đ (một tỷ ba trăm triệu đồng) nhưng không có văn bản trả lời. Như vậy có đủ cơ sở khẳng định việc Công ty H có vay tiền của anh Trương Thanh H và chị Mai Thị Hằng Glà có thật, tại giấy vay tiền ngày 03/4/2017 thời hạn vay là 3 tháng, giấy vay tiền ngày 11/4/2017 thời hạn vay đến ngày 22/4/2017, như vậy đây là hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn và không có lãi phù hợp với Điều 463; 465 Bộ luật dân sự năm 2015. Nay anh Trương Thanh H và chị Mai Thị Hằng Gyêu cầu Công ty H trả lại số tiền 1.300.000.000đ (một tỷ ba trăm triệu đồng) là phù hợp với Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 cần được chấp nhận.
Tại phiên toà hôm nay nguyên đơn không yêu cầu tính lãi xuất vì vậy Toà
án không giải quyết.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Công ty H phải chịu án phí theo qui định của pháp luật. Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 463, 465, 466 Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Anh Trương Thanh H và chị Mai Thị
Hằng G.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên H phải thanh toán cho anh
Trương Thanh H và chị Mai Thị Hằng Gsố tiền còn nợ là 1.300.000.000đ (một tỷ ba trăm triệu đồng) theo giấy vay tiền lập ngày 03/4/2017 và ngày 11/4/2017.
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật và từ ngày người được thi hành
án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo qui định tại Điều 357 Bộ Luật dân sự.
2. Về án phí: Anh Trương Thanh H và chị Mai Thị Hằng G không phải
chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho anh Trương Thanh H và chị Mai Thị Hằng Gsố tiền 25.500.000đ (Hai mươi năm triệu năm trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0004886 ngày 19 tháng 01 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên H phải chịu 51.000.000đ
(năm mươi mốt triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3.Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bbị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TA, VKS tỉnh;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND TP Lào Cai;
- Đương sự (2);
- THA DS (2);
(đã ký)
- Lưu TA,VP,HS.
Hoàng Duy Chiến
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ LÀO CAI
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH LÀO CAI
TP.Lào Cai, ngày 24 tháng 8 năm 2018 Số: 09 /2018QĐ - SCBSBA
QUYẾT ĐỊNH
SỮA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN SƠ THẨM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
Căn cứ vào Điều 268 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Xét cần sửa chữa, bổ sung bản án do lỗi rõ ràng về chính tả trong bản án số
12/2018/DS - ST ngày 31/7/2018 của Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai đã xét xử sơ thẩm vụ án Dân sự giữa:
1.Nguyên đơn: Anh Trương Thanh H và chị Mai Thị Hằng G.
Cùng địa chỉ: Số nhà 030, đường C, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D.
Địa chỉ: Tổ 1, thị trấn S, huyện S, thành phố Hà Nội. Có mặt.
2. Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên H.
Địa chỉ công ty: Số nhà 034, đường T phường B, thành phố L, tỉnh Lào
Cai.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng Th, chức vụ: Giám đốc
Công ty.
Địa chỉ: Số nhà 110, đường H, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
QUYẾT ĐỊNH
Sữa chữa bổ sung bản án 12/2018/DS - ST ngày 31/7/2018 của Toà án nhân
dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai như sau:
Tại dòng thứ 12 trang 1 từ trên xuống của bản án đã ghi: “Các Hội thẩm nhân dân:”.
Nay sửa chữa như sau: “Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Lục Văn Vãn;
- Bà Vũ Thị Hòa”.
Tại dòng thứ 11 từ trên xuống của bản án đã ghi: “Căn cứ vào Điều 463, 465,
466 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.” .
Nay sửa chữa bổ sung như sau: “Căn cứ vào Điều 463, 465, 466 Bộ luật Dân
sự năm 2015.” .
| Nơi nhận: - TA; VKS tỉnh Lào Cai; - VKS TP Lào Cai; - Đương sự (2); - THA DS. - Lưu TA, VP, HS. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Duy Chiến |