vanban.org

Bản án 12/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Phúc S; sinh năm 2001.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày 10/9/2026. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Hoàng Phúc S"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Phúc S; sinh năm 2001.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Luật Phòng, chống ma túy; Nghị định số 163/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn t…; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 12/ QĐ -TATuyên Quang, ngày 29 tháng 9 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – TUYÊN QUANG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Dương Văn C.

2. Thư ký phiên họp: Bà Lê Minh Hậu.

Ngày 29 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Tuyên Quang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 12/QĐ-TA ngày 24 tháng 9 năm 2026 đối với:

Họ và tên: Hoàng Phúc S; giới tính: Nam; sinh ngày 20/5/2001; căn cước công dân số 002201008107, cấp ngày 09/5/2021; nơi cấp: Cục Q về TTXH Bộ C1; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã M, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Không; tiền án, tiền sự: Không; con ông Hoàng Văn T và con bà Nguyễn Thị T1 (có đơn xin vắng mặt) tại phiên họp.

Có sự tham gia của

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Thanh H; chức vụ: Trưởng Công an xã M, tỉnh Tuyên Quang; người được ủy quyền: Ông Hoàng Đức M - Phó Trưởng Công an xã M, tỉnh Tuyên Quang.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Tuyên Quang: Ông Mai Minh Thuyết - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY

Ngày 07/9/2026, Công an xã M tuần tra phát hiện Hoàng Phúc S có nghi biểu hiện vi phạm pháp luật. Công an xã M đã đưa Hoàng Phúc S đến trụ sở lấy mẫu nước tiểu xét nghiệm chất ma túy; phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể H tính chất ma túy. Trạm tế xã M thực hiện việc xác định tình trạng nghiện đối với Hoàng Phúc S theo quy định.

Ngày 08/9/2026 Công an xã M xác minh tại Công an xã M, tỉnh Tuyên Quang Hoàng Phúc Sơn có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn N, xã M, tỉnh Tuyên Quang nhưng hiện tại không sinh sống tại nơi đăng ký thường trú và không rõ Hoàng Phúc S đang ở đâu.

Ngày 08/9/2026, Trưởng Công an xã M ban hành Quyết định số 10E/QĐ-CAX, áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý đối với Hoàng Phúc S.

Ngày 10/9/2026 Phiếu trả lời kết quả của Trạm tế xã M xác định tình trạng nghiện Hoàng Phúc S có nghiện ma túy, loại ma túy Heroin đồng thời giao cho Hoàng Phúc S 01 phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện. Cùng ngày Trưởng Công an xã M ra Quyết định dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy số 10F/QĐ-CAX ngày 10/9/2026.

Ngày 10/9/2026 Hoàng Phúc S có đơn không đăng ký tự nguyện cai nghiện ma túy và không đăng ký điều trị nghiện bằng thuốc thay thế.

Ngày 10/9/2026 Công an xã M lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện đối với Hoàng Phúc S vi phạm không đăng ký tự nguyện cai nghiện ma túy, không đăng ký điều trị bằng thuốc thay thế tại bản tường trình và biên bản làm việc Hoàng Phúc S đã thừa nhận vào tối ngày 05/9/2026 mua ma túy loại Methamphetamin của một người đàn ông (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) với giá là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tại phường H, tỉnh Tuyên Quang xong một mình sử dụng hết và vào ngày 06/9/2026 mua ma túy loại Heroin của một người đàn ông khác (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) tại xã N, tỉnh Tuyên Quang với giá là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) xong sử dụng hết vào sáng 07/9/2026; hình thức hít; tần suất sử dụng khoảng 2 đến 3 ngày/lần; lần gần nhất ngày 07/9/2026. Thời gian sử dụng ma túy từ ngày 12/12/2022.

Ngày 10/9/2026 Công an xã M ra Quyết định số 10A/QĐ-CAX về việc giao người nghiện ma túy để quản lý trong thời gian lập hồ sơ đưa đi cai nghiện bắt buộc và giao Hoàng Phúc S cho Cơ sở Cai nghiện ma túy số 2, tỉnh Tuyên Quang quản lý.

Ngày 17/9/2026 Công an xã M thông báo số 10D/TB-CAX về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Phúc S. Tại văn bản đề nghị số 10C/ĐN-CAX ngày 17/9/2026 của Trưởng Công an xã M, tỉnh Tuyên Quang, đề nghị xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Phúc S.

Ngày 28/9/2026 Hoàng Phúc S có đơn xin giải quyết vắng mặt tại phiên họp và đề nghị được cai nghiện bắt buộc theo quy định của pháp luật.

Đại diện Công an xã M nơi lập hồ sơ ý kiến: Hoàng Phúc S sử dụng ma túy từ ngày 12/12/2022, là người nghiện ma túy không có nơi cư trú ổn định. Qua quá trình xác minh tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú thôn N, xã M, tỉnh Tuyên Quang, Hoàng Phúc S hiện không sinh sống tại nơi đăng ký thường trú, thường xuyên giao du với các đối tượng xấu, không có công việc ổn định, hiện làm gì ở đâu không biết. Nay đề nghị đưa Hoàng Phúc S đi cai nghiện bắt buộc thời gian là 24 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Tuyên Quang tham gia phiên họp phát biểu ý kiến qua kiểm sát việc giải quyết vụ việc từ khi thụ lý đến thời điểm mở phiên họp thấy rằng: Thẩm phán, Thư ký phiên họp đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Hồ sơ lập đúng đối tượng theo trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 35; Điều 37 Luật Phòng chống ma túy năm 2025; Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2025; Nghị định 163/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy; Nghị định 166/2026/NĐ-CP, ngày 15/5/2026 của Chính phủ quy định hồ sơ, trình tự xác định tình trạng nghiện ma túy.

Đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Tuyên Quang áp dụng Điều 35, Điều 37, Điều 38, Điều 54 Luật Phòng chống ma túy năm 2025; Khoản 2, Điều 9 Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2025; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của UBTVQH; Pháp lệnh số 02/2026/UBTVQH16 ngày 10/6/2026 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (Văn bản hợp nhất số 119/VBHN-VPQH ngày 25/6/2026 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án); Nghị định 163/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy; Nghị định 166/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ quy định hồ sơ, trình tự xác định tình trạng nghiện ma túy.

Đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Tuyên Quang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Phúc S thời hạn áp dụng là 24 tháng, kể từ ngày 10/9/2026.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án, ý kiến của cơ quan đề nghị nơi lập hồ sơ và ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Tuyên Quang có đủ căn cứ xác định.

. Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Hoàng Phúc S là người nghiện ma túy không có nơi cư trú ổn định nên Công an xã M là cơ quan trực tiếp phát hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đúng quy định tại các Điều 95; Điều 103; Điều 104, Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020, năm 2025; Điều 35, Điều 54 Luật, phòng chống ma túy năm 2025; Văn bản hợp nhất số 119/VBHN-VPQH ngày 25/6/2026 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án; Nghị định 163/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy; Nghị định 166/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ quy định hồ sơ, trình tự xác định tình trạng nghiện ma túy.

. Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ Hoàng Phúc S tại bản tường trình, biên bản ghi lời khai đã thừa nhận sử dụng ma túy từ ngày 12/12/2022; hình thức hít; sử dụng ma túy lần gần nhất ngày 07/9/2026. Hoàng Phúc S là người nghiện ma túy đã được thông báo về kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy nhưng không đăng ký tự nguyện cai nghiện ma túy, không đăng ký điều trị bằng thuốc thay thế … đã vi phạm điểm a, điểm c khoản 1 Điều 35 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 và Nghị định 163/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy. Vì vậy việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Hoàng Phúc S đưa đi cai nghiện bắt buộc là phù hợp theo quy định tại Điều 54 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

. Về tình tiết tăng nặng: Không.

. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi về hành vi của mình, nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

. Xét về nhân thân: Hoàng Phúc S chưa có tiền án, tiền sự. Bản thân Hoàng Phúc S là người có đủ năng lực trách nhiệm hành chính, nhận thức được việc sử dụng trái phép chất ma túy là có hại cho sức khỏe con người, nhưng vẫn cố tình sử dụng trái phép chất ma túy không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện và không đăng ký điều trị bằng thuốc thay thế … sử dụng ma túy lần gần nhất ngày 07/9/2026. Vì vậy, việc áp dụng xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc Hoàng Phúc S là cần thiết, để giúp người bị đề nghị áp dụng biện pháp hành chính được chữa bệnh, lao động, học nghề và sinh hoạt dưới sự quản lý giáo dục của cơ sở cai nghiện bắt buộc.

. Tại phiên họp người đề nghị và Kiểm sát viên đề nghị là có căn cứ, phù hợp nên được chấp nhận.

. Từ những nhận định trên: Căn cứ khoản 2 Điều 9, Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020, năm 2025; Điều 29, điểm a, c khoản 1 Điều 35, Điều 37, Điều 38, Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy năm 2025; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 được sửa đổi, bổ sung bởi Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15, ngày 27/6/2025; Pháp lệnh số 02/2026/ UBTVQH16 ngày 10/6/2026 (Văn bản hợp nhất số 119/VBHN-VPQH, ngày 25/6/2026) về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Nghị định số 163/2026/NĐ-CP, ngày 15/5/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy; Nghị định 166/2026/NĐ-CP, ngày 15/5/2026 của Chính phủ quy định hồ sơ, trình tự xác định tình trạng nghiện ma túy.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Phúc S; sinh năm 2001.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày 10/9/2026.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định:

- Hoàng Phúc S vắng mặt tại phiên họp có quyền khiếu nại quyết định trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

- Trưởng Công an xã M có quyền kiến nghị quyết định trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

- Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Tuyên Quang có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức cá nhân thi hành Quyết định: Trưởng Công an xã M, tỉnh Tuyên Quang có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định đưa người nghiện ma túy đi cai nghiện ma túy của Tòa án, Giám đốc Công an cấp tỉnh.

Cỡ chữ