- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Sơn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| + TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2026/HS-ST Ngày: 30 - 01 -2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Hiền
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Khanh
Ông Đào Danh Tuất
- Thư ký phiên tòa:
Ông Bùi Văn Hiếu
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thanh Thảo.
Ngày 30 tháng 01 năm 2026 tại địa chỉ số 296, Quốc lộ 55, xã Hồ Tràm, thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự thụ lý số 95/2025/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2026/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2026 đối với:
Bị cáo: Nguyễn Sơn L; sinh năm 1988, tại thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
Hộ khẩu thường trú: Ấp 3B, xã Bàu Lâm, thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Xuân L1, sinh năm 1956 và bà Trần Thị Th, sinh năm 1966. Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 02 chị em. Vợ, con: Không có.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
+ Năm 2007, bị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội “Hủy hoại tài sản” và tội “Gây rối trật tự công cộng” (Bản án số 1061/2007/HSST ngày 18/12/2007) đã chấp hành xong hình phạt tù và đã nộp án phí.
+ Năm 2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu (cũ) tuyên phạt 12 tháng tù giam về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” (Bản án số 256/2009/HSST ngày 17/11/2009) đã chấp hành xong hình phạt tù và đã nộp án phí.
Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Hồ Tràm thuộc Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hồ Chí Minh.
Người làm chứng:
1/Ông Trương Bùi Gia H, sinh năm 1993; địa chỉ: Ấp3, xã Bàu Lâm, thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
2/Ông Lê Ngọc H1, sinh năm 1998; địa chỉ: Ấp 2 Tây, xã Bàu Lâm, thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để có ma túy sử dụng và bán kiếm lời, tối ngày 24/4/2025, L sử dụng điện thoại di động gắn sim số 0898542172 liên hệ với người tên “Anh quan 9” (không rõ lai lịch ở TP. Hồ Chí Minh) hỏi mua 5.000.000 đồng ma túy, người này đồng ý, hẹn giao dịch tại nhà của L, địa chỉ ấp 3B, xã Bàu Lâm. Sau khi hẹn gặp, L chạy xe mô tô (mượn của bạn chưa rõ lai lịch) ra cây xăng Hòa Hưng thuộc xã Hòa Hưng (cũ) chở “Anh quan 9” về nhà, giao 5.000.000 đồng tiền mặt và nhận 50 gói nylon dạng túi zip bên trong chứa chất kết tinh không màu, trong suốt. Ma túy mua được, L cất giấu vào tủ nhựa trong phòng ngủ. Từ ngày 24/4/2025 đến ngày 28/4/2025, L nhiều lần bán ma túy cho Trương Bùi Gia H, Lê Ngọc H1 (mỗi người 01 gói ma tuý) và 07 gói ma tuý bán cho các con nghiện khác nhưng không rõ nhân thân, lai lịch và thời gian, cụ thể như sau:
+ Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 28/4/2025, sau khi nhận được cuộc gọi của Trương Bùi Gia H hỏi mua 400.000 đồng ma túy, L đồng ý hẹn giao dịch tại nhà ở ấp 3B, xã Bàu Lâm. H chuyển 700.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của L (gồm 400.000 đồng mua ma túy và 300.000 đồng trả nợ trước đó) rồi đến nhà gặp L nhận ma tuý.
+ Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, Lê Ngọc H1 nhắn tin qua số điện thoại của L nội dung “A trai về chưa e chạy lên” mục đích mua ma túy, L đồng ý. Khoảng 10 phút sau, H2 đến nhà gặp L giao 300.000 đồng tiền mặt và nhận 01 gói ma túy đá tại cột điện trước nhà L (ma túy do L giấu sẵn). Đến khoảng 17 giờ, L điều khiển xe về trước nhà thì bị Công an mời về trụ sở làm việc như trên.
Ngoài ra, L khai trước đó (không rõ thời gian) từng mua 5.000.000 đồng ma túy của “Anh quan 9” với phương thức giao dịch như trên, sau đó đã bán hết cho các con nghiện lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Tại kết luận giám định số 293/KL-KTHS-MT ngày 05 tháng 5 năm 2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu kết luận: Một phong bì màu trắng được niêm phong, có hình dấu của Công an xã Bàu Lâm - Công an tỉnh Bà Rịa
- Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Mai Tuấn S, Nguyễn Y H3, Phạm Hoài Kh, Nguyễn Sơn L, Trần Tiến H4 bên trong có 41 gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu - trong suốt có khối lượng 11,7730 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.
Hoàn lại đối tượng giám định gồm: 9,2276 gam mẫu vật còn lại sau giám định.
Vật chứng tạm giữ và xử lý: 01 phong bì màu trắng được niêm phong ghi vụ số 293 ngày 05/5/2025 có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa
- Vũng Tàu cùng các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn D, Hoàng Thị Lan M, Hoàng Nhân Qu; 01 điện thoại di động Iphone 14 Pro max, số IMEI: 358497890225085, bên trong có sim số 0967555339 L liên lạc mua bán ma túy. Vật chứng nêu trên được chuyển Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 14 để xử lý khi xét xử.
Đối với xe mô tô L sử dụng chở đối tượng bán ma tuý về nhà, L mượn của bạn chưa rõ nhân thân, lai lịch sau đó đã trả lại nên Cơ quan Công an không thu giữ được.
Số tiền bán ma túy cho H, H1 và các đối tượng chưa rõ lai lịch, bị cáo lấy tiêu sài cá nhân hết nên Cơ quan Công an không thu giữ được.
Tại bản cáo trạng số 37/CT-VKS, ngày 31 - 12 - 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14, thành phố Hồ Chí Minh quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân khu vực 14, thành phố Hồ Chí Minh để xét xử bị cáo Nguyễn Sơn L về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b và điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14, thành phố Hồ Chí Minh tại phiên toà: Giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm b và điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s, điểm r khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Sơn L từ 09 năm đến 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Sơn L với số tiền từ 20.000.000đ đến 40.000.000đ.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:
Đề nghị truy thu số tiền bị cáo bán ma tuý cho H và H1 vào ngày 28/4/2025 với số tiền là 700.000đ, đây là tiền thu lợi bất chính cần truy thu để sung ngân sách nhà nước.
Số ma tuý còn lại sau khi giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì màu trắng ghi vụ số 293 ngày 05/5/2025 có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cùng các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn D, Hoàng Thị Lan M, Hoàng Nhân Qu là vật nhà nước cấm tàng trữ lưu hành nên đề nghị tịch thu tiêu huỷ.
01 (một) điện thoại di động Iphone 14 Pro max, số IMEI: 358497890225085, bên trong có sim số 0967555339, bị cáo L dùng để liên lạc mua bán ma túy nên đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Bị cáo Nguyễn Sơn L nói lời nói sau cùng: Bị cáo đã ăn năn hối cải nên mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14, thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội: Xét thấy, lời khai nhận về hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo về hành vi phạm tội tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 24/4/2025, Nguyễn Sơn L gọi điện hỏi mua của “Anh quan 9” (không rõ lai lịch) 50 gói nylon chứa ma túy đá với giá 5.000.000 đồng mục đích bán lại cho các con nghiện để kiếm lời. Từ ngày 24/4/2025 đến ngày 28/4/2025, L nhiều lần mua bán trái phép chất ma tuý, trong đó L bán 2 gói cho Trương Bùi Gia H và Lê Ngọc H1, 7 gói bán cho các đối tượng chưa rõ nhân thân, lai lịch, còn lại 41 gói ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 11,7730 gam chưa kịp bán thì bị phát hiện, thu giữ.
Ngoài ra, cũng với phương pháp thủ đoạn nêu trên, trước đó L đã mua 5.000.000 đồng ma túy đá của cùng đối tượng, sau đó bán hết cho nhiều người nhưng không nhớ được thời gian, địa điểm và người mua ma túy. Do đó, hành vi của Nguyễn Sơn L đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b và điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14, thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Trong khi các cơ quan chức năng Nhà nước và toàn nhân dân đang lên án, ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn ma túy ra khỏi xã hội, như vậy hành vi của bị cáo thể hiện thái độ xem thường pháp luật, chống đối lại trật tự trị an mà toàn xã hội đang ra sức bảo vệ. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
Đối với người tên “Anh quan 9” bán ma túy cho L hiện chưa xác minh được nhân thân, lai lịch. Ngoài ra, quá trình điều tra, L khai trước ngày 24/4/2025 còn mua của “Anh quan 9” 5.000.000 đồng ma túy nhưng không nhớ rõ thời gian và đã bán hết số ma tuý trên cho nhiều đối tượng không rõ lai lịch. Do đó, đối với người bán ma tuý cho L cùng các đối tượng L bán ma tuý từ ngày 24 đến ngày 28/4/2025 và những lần trước đó, Cơ quan Điều tra tách ra cùng các tài liệu, vật chứng liên quan (theo Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số H8253/QĐ-CSMT ngày 21/11/2025) đề nghị tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xử lý theo quy định.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự thú về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của mình trước đó nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xét xử và bị xử phạt án tù giam 2 lần vào năm 2007 và năm 2009 nhưng bị cáo vẫn không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
Về áp dụng hình phạt:
Hình phạt chính: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo ý thức được đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Sơn L mua bán trái phép chất ma tuý nhiều lần và lấy việc mua bán ma tuý làm nguồn sống chính nên cần phạt bổ sung bị cáo với số tiền là 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng).
Về vật chứng trong vụ án:
Vào ngày 28/4/2025 bị cáo Nguyễn Sơn L bán ma tuý cho H và H1 với số tiền là 700.000đ, đây là tiền thu lợi bất chính nên cần buộc bị cáo L nộp lại số tiền 700.000đ (bảy trăm ngàn đồng) để sung ngân sách nhà nước.
Số ma tuý còn lại sau khi giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì màu trắng ghi vụ số 293 ngày 05/5/2025 có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cùng các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn D, Hoàng Thị Lan M, Hoàng Nhân Qu là vật nhà nước cấm tàng trữ lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.
01 (một) điện thoại di động Iphone 14 Pro max, số IMEI: 358497890225085, bên trong có sim số 0967555339, bị cáo L dùng để liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b và điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm s, điểm r khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Sơn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Sơn L 09 (chín) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28 tháng 4 năm 2025.
Hình phạt bổ sung: Phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Sơn L với số tiền là 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ Luật hình sự; Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự:
- Buộc bị cáo Nguyễn Sơn L phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 700.000đ (bảy trăm ngàn đồng) để sung ngân sách nhà nước.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước một điện thoại di động Iphone 14 Pro max, số IMEI: 358497890225085, bên trong có sim số 0967555339.
- Tịch thu tiêu hủy số ma tuý còn lại sau giám định đựng trong 01 (một) phong bì màu trắng ghi vụ số 293 ngày 05/5/2025 có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cùng các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn D, Hoàng Thị Lan M, Hoàng Nhân Qu.
(Vật chứng trên hiện đang được cơ quan Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 14-Thành phố Hồ Chí Minh quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 67/BB-THADS ngày 13 tháng 01 năm 2026)
4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Sơn L phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 311, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
.
Lê Thu Hiền
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP.HCM; - Viện Kiểm sát nhân dân TP.HCM; - Công an TP.HCM; - VKS nhân dân khu vực 14 – TP.HCM; - Cơ quan thi hành án dân sự – TP.HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - Phân trại tạm giam Hồ Tràm – trại giam số 1; - Bị cáo; - Các đương sự. - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thu Hiền |