- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án tranh chấp ly hôn giữa bà Trần Thị Kim T với ông Ngô Thanh H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ đơn yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Kim T với ông Ngô Thanh H.
- Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2026/HNGĐ-ST Ngày: 29/01/2026 V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Phi.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tường Bích.
2. Bà Phạm Thị Thu Trang.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đặng Hoàng Long - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Chúc - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 271/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 148/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2026/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Kim T, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Số 146/TB, ấp Thạnh Bình, xã BT, tỉnh Vĩnh Long.
Bà T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 04/12/2025.
.- Bị đơn: Ông Ngô Thanh H, sinh năm 1983 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp An Quí, xã TT, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 12/5/2025 và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Trần Thị Kim T trình bày:
Bà Trần Thị Kim T với ông Ngô Thanh H tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2008, hai bên có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Hòa Tây, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre (Nay là xã TT, tỉnh Vĩnh Long). Sau khi kết hôn, vợ, cH chung sống có hạnh phúc. Đến đầu năm 2025, vợ cH phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình hai bên kH hòa hợp, vợ cH thường hay cự cải nhau. Bà T cố gắng hàn gắn thuyết phục ông H xây dựng lại cuộc sống gia đình nhưng kH có kết quả, từ đó dẫn đến tình cảm vợ cH kH còn. Vì vậy, bà T với ông H đã sống ly thân từ đầu năm 2025 cho đến nay. Hiện tại, bà T nhận thấy kH còn tình cảm vợ cH với ông H nữa nên yêu cầu ly hôn với ông H.
Về nuôi con chung: Có 02 con chung tên là Ngô Thị Trúc D, sinh ngày 08/7/2008; Ngô Nhật Trường Đ, sinh ngày 02/9/2012. Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, kH yêu cầu ông Ngô Thanh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Hai bên tư thỏa thuận.
Về nợ chung: KH có.
* Đối với bị đơn Ngô Thanh H trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng ông H đều vắng mặt kH có lý do, mặc dù ông H vẫn còn Đg sinh sống tại địa phương, nên kH thu thập được lời khai, ý kiến hay yêu cầu của bị đơn Ngô Thanh H.
* Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre tham gia phiên Tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
Thẩm phán thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến khi ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử. Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự trong quá trình xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn Trần Thị Kim T thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự, tuy nhiên bị đơn Ngô Thanh H kH chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, vắng mặt tại phiên tòa là vi phạm khoản 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Chấp nhận toàn bộ đơn yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Kim T đối với ông NgôThanh H.
Về nuôi con chung: Bà Trần Thị Kim T được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên là Ngô Thị Trúc D, sinh ngày 08/7/2008; Ngô Nhật Trường Đ, sinh ngày 02/9/2012.
Ghi nhận việc bà Trần Thị Kim T tự nguyện kH yêu cầu ông Ngô Thanh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, kH yêu cầu Tòa án giải quyết nên kH xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Bà Trần Thị Kim T khai kH có, ông Ngô Thanh H kH có ý kiến hay yêu cầu gì nên kH xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Trần Thị Kim T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; Bị đơn Ngô Thanh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để xét xử nhưng vẫn vắng mặt kH có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân.
Bà Trần Thị Kim T với ông Ngô Thanh H tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2008, hai bên có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, vợ cH phát sinh nhiều mâu thuẫn, kH thể hàn gắn được. Hiện tại, ai cũng có cuộc sống riêng, kH quan tâm đến nhau và đã ly thân từ đầu năm 2025 cho đến nay. Trong quá trình tố tụng, Toà án đã triệu tập bà T với ông H để hoà giải, nhằm tạo điều kiện cho hai bên có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ cH nhưng bà T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, ông Ngô Thanh H vắng mặt lần thứ hai kH có lý do. Điều đó cho thấy hai bên đã kH còn quan tâm và kH có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ cH với nhau. Từ đó, đủ cơ sở xác định cuộc sống vợ, cH giữa bà T với ông H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung kH thể kéo dài, mục đích hôn nhân kH đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà T là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nuôi con chung:
Hội đồng xét xử xét thấy: Hai con chung Ngô Thị Trúc D, sinh ngày 08/7/2008; Ngô Nhật Trường Đ, sinh ngày 02/9/2012 đều Đg sống chung với bà T từ nhỏ, đồng thời các con chung đều phát triển bình thường, do đó cần tiếp tục giao các con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng để đảm bảo sự phát triển bình thường của các con chung (Phù hợp với ý kiến của con chung trên 07 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận việc bà Trần Thị Kim T tự nguyện kH yêu cầu ông Ngô Thanh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà Trần Thị Kim T yêu cầu để hai bên tự thỏa thuận, ông Ngô Thanh H kH có ý kiến hay yêu cầu gì nên kH xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Bà Trần Thị Kim T khai kH có, ông Ngô Thanh H kH có ý kiến hay yêu cầu gì nên kH xem xét, giải quyết.
Đối với lời trình bày của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8-Vĩnh Long về quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật cũng như nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm:
Áp dụng quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bà Trần Thị Kim T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84, 107, 116, 119 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ đơn yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Kim T với ông Ngô Thanh H.
Cho ly hôn giữa bà Trần Thị Kim T với ông Ngô Thanh H.
Quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Kim T với ông Ngô Thanh H chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về nuôi con chung: Bà Trần Thị Kim T được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung tên là Ngô Thị Trúc D, sinh ngày 08/7/2008; Ngô Nhật Trường Đ, sinh ngày 02/9/2012 (Phù hợp với nguyện vọng của con chung 07 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận việc bà Trần Thị Kim T tự nguyện kH yêu cầu ông Ngô Thanh H cấp dưỡng nuôi con.
Ông Ngô Thanh H kH trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà kH ai được cản trở.
Bà Trần Thị Kim T trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình kH được cản trở ông Ngô Thanh H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84, Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, kH yêu cầu Tòa án giải quyết nên kH xem xét, giải quyế
4. Về nợ chung: KH có.
5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:
Bà Trần Thị Kim T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ba T đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0005585 ngày 14 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
Như vậy, bà Trần Thị Kim T đã nộp đủ án phí.
Các đương sự bà Trần Thị Kim T, ông Ngô Thanh H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long (Phòng GĐKT,TT & THA); - VKSND khu vực 8-Vĩnh Long; - Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long; - UBND xã TT tỉnh Vĩnh Long; (Số 80, quyển số 01/2008); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Đăng Phi |