vanban.org

Bản án 12/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa anh Bùi Phú Khánh và chị Nguyễn Thị Trang.

Về con chung: Giao con chung Bùi Phương Anh sinh ngày 15/11/2013 và Bùi Thảo Diệp sinh ngày 20/9/2017 cho anh Bùi Phú Khánh trực tiếp nuôi dưỡng, chị Trang không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng không được l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Khánh - Trang"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa anh Bùi Phú Khánh và chị Nguyễn Thị Trang.
  • Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 06/02/2026.
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Hồng Nhung;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Thu Hoà, bà Trịnh Thị Hồng Thắm.

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Hà Linh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiên - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Ninh Bình.

Ngày 06 tháng 02 năm 2026, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8 – Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 220/2025/TLST - HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 220/2026/QĐXXST-HNGĐ, ngày 07 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Bùi Phú Khánh – Sinh năm 1988

Nơi thường trú: Đội 4 – Hổ Sơn, xã Liên Minh, tỉnh Ninh Bình.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Trang – Sinh năm 1993.

Nơi thường trú: Đội 4 – Hổ Sơn, xã Liên Minh, tỉnh Ninh Bình

Hiện đang cư trú và làm việc tại Nhật Bản

Tại phiên tòa: vắng mặt anh Khánh có lý do; chị Trang vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình làm việc tại Toà án Nguyên đơn anh Bùi Phú Khánh trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Trang kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định (nay là xã Liên Minh, tỉnh Ninh Bình) vào ngày 07/5/2013. Vợ chồng chung sống hòa thuận khoảng 2 năm đầu thì xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình và quan điểm sống không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên xảy ra bất đồng, cãi vã và xúc phạm nhau. Năm 2018 chị Trang đi xuất khẩu lao động ở Nhật Bản, vợ chồng liên hệ với nhau qua điện thoại nhưng vẫn không tìm được tiếng nói chung, chị Trang cũng không về ở với bố con anh nữa. Vợ chồng đã ly thân nhiều năm, tình cảm không hàn gắn được nên anh đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị Trang.

Về con chung: Anh và chị Trang có 02 con chung là Bùi Phương Anh sinh ngày 15/11/2013, Bùi Thảo Diệp sinh ngày 20/9/2017. Sau khi ly hôn, anh có nguyện vọng trực tiếp nuôi cả hai con chung không yêu cầu chị Trang cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác trong quan hệ hôn nhân, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do hiện nay chị Trang đang cư trú và lao động ở Nhật Bản nên không bố trí được thời gian về Việt Nam ly hôn với anh được nên anh đề nghị không tiến hành hoà giải vụ án ly hôn giữa anh và chị Trang và đề nghị Toà án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho bị đơn là chị Nguyễn Thị Trang nhưng chị Trang không đến Tòa án để giải quyết vụ án.

Quá trình xác minh tại địa phương được biết: Chị Nguyễn Thị Trang quê ở thành phố Nam Định (cũ) và anh Bùi Phú Khánh ở thôn Hổ Sơn được Uỷ ban nhân dân xã Liên Minh, tỉnh Ninh Bình cho đăng ký kết hôn vào ngày 07/5/2013, sau khi kết hôn anh chị sống cùng nhau tại gia đình anh Khánh ở thôn Hổ Sơn, xã Liên Minh, tỉnh Ninh Bình. Mâu thuẫn cụ thể giữa chị Trang và anh Khánh như thế nào địa phương không nắm được. Theo thông tin từ gia đình thì năm 2018 đến nay chị Trang đi nước ngoài làm ăn rồi không về ở với anh Khánh nữa, chị Trang đi nước nào, làm nghề gì thì địa phương không nắm được. Giữa chị Trang và anh Khánh có 02 con chung là Bùi Phương Anh sinh ngày 15/11/2013, Bùi Thảo Diệp sinh ngày 20/9/2017, hiện đang ở cùng anh Khánh. Về tài sản chung, công nợ của chị Trang và anh Khánh địa phương không nắm được.

Bà Nguyễn Thị Lan ở tổ 10 – Thành Nam, phường Thành Nam, tỉnh Ninh Bình là mẹ đẻ của chị Trang cho biết anh Khánh chị Trang có đăng ký kết hôn vào ngày 07/5/2013 tại Uỷ ban nhân dân xã Liên Minh huyện Vụ Bản (cũ), vợ chồng ở với nhau đã xảy ra trục trặc, đến năm 2018 chị Trang đi lao động ở Nhật Bản. Gia đình cũng khuyên bảo nhiều nhưng anh chị không hoà thuận được. Việc anh Khánh có đơn xin ly hôn, chị Trang và gia đình đều biết. Chị Trang cũng thông báo với gia đình là nhất trí ly hôn với anh Khánh và để anh Khánh trực tiếp nuôi con là cháu Phương Anh và Thảo Diệp, anh Khánh không yêu cầu chị cấp dưỡng nuôi con. Chị Trang không có yêu cầu đề nghị Toà án giải quyết thêm vấn đề gì khác. Hiện nay chị Trang đi làm ở Nhật Bản, không biết địa chỉ cụ thể của chị Trang ở đâu.

Do chị Trang vắng mặt nên Toà án không tiến hành hoà giải được và Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa: Chủ toạ phiên toà công bố yêu cầu xét xử vắng mặt của anh Khánh và thông báo việc chị Trang đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do.

Chủ tọa phiên tòa công bố tóm tắt nội dung vụ án, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý đến trước khi thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của anh Khánh xử ly hôn giữa anh Bùi Phú Khánh và chị Nguyễn Thị Trang. Về con chung: Giao cháu Bùi Phương Anh sinh ngày 15/11/2013, Bùi Thảo Diệp sinh ngày 20/9/2017 cho anh Bùi Phú Khánh trực tiếp nuôi dưỡng, chấp nhận sự tự nguyện của anh Khánh không yêu cầu chị Trang cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác anh Khánh không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Anh Khánh phải nộp phí sơ thẩm ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Theo đơn khởi kiện của anh Bùi Phú Khánh, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Chị Nguyễn Thị Trang có hộ khẩu thường trú tại xã Liên Minh, tỉnh Ninh Bình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 8 – Ninh Bình theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2025.

Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị Trang nhưng chị Trang không có mặt, anh Khánh có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt do vậy không tiến hành hòa giải được và Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Khánh, chị Trang theo quy định tại khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 228 của của Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2025.

. Về nội dung: Anh Bùi Phú Khánh và chị Nguyễn Thị Trang tự nguyện kết hôn vào ngày 07/5/2013, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Liên Minh, tỉnh Ninh Bình là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Mặc dù có 02 con chung với nhau nhưng hạnh phúc không duy trì được. Vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, không còn yêu thương tôn trọng nhau nên đã ly thân nhiều năm, không chung sống cùng nhau nữa, gia đình hai bên đã khuyên giải nhiều nhưng vợ chồng anh chị không hoà thuận được. Anh Khánh có đơn xin ly hôn, chị Trang biết nhưng không có quan điểm đề nghị Toà án giải quyết nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Xét mâu thuẫn của vợ chồng anh chị, Hội đồng xét xử thấy anh chị đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên chấp nhận đơn của anh Khánh để xử ly hôn giữa anh chị là hoàn toàn phù hợp với các quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Anh Khánh và chị Trang có 02 con chung là Bùi Phương Anh sinh ngày 15/11/2013, Bùi Thảo Diệp sinh ngày 20/9/2017, hiện đang ở cùng với bố tại thôn Hổ Sơn. Khi ly hôn anh Khánh nhận trách nhiệm nuôi dưỡng chăm sóc hai con chung, không yêu cầu chị Trang cấp dưỡng tiền nuôi cùng anh. Xét nguyện vọng nuôi con của anh Khánh Hội đồng xét xử nhận thấy: Hiện nay cháu Diệp và cháu Anh đang do anh Khánh nuôi dưỡng, được ăn ở, cư trú ổn định, được học tập, phát triển lành mạnh cả về thể chất, tinh thần. Chị Trang hiện đang cư trú, lao động tại Nhật Bản xa nhà. Do vậy để đảm bảo quyền lợi của con chung, cần giao cháu Anh và cháu Diệp cho anh Bùi Phú Khánh trực tiếp nuôi dưỡng, chấp nhận sự tự nguyện của anh Khánh không yêu cầu chị Trang cấp dưỡng nuôi con, nên không buộc chị Trang phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình và nguyện vọng của con chung. Anh Khánh và chị Trang có quyền, nghĩa vụ đối với con chung theo quy định tại Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung, công nợ và các vấn đề khác có liên quan trong hôn nhân: Anh Khánh không yêu cầu, chị Trang không có ý kiến gì nên Hội đồng không xem xét giải quyết.

Về án phí: Anh Bùi Phú Khánh phải chịu án phí ly hôn theo quy định của Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Điều 271, 272 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56, 71, 81, 82, 83, 123 và Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 271, Điều 272; Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2025; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa anh Bùi Phú Khánh và chị Nguyễn Thị Trang.

2. Về con chung: Giao con chung Bùi Phương Anh sinh ngày 15/11/2013 và Bùi Thảo Diệp sinh ngày 20/9/2017 cho anh Bùi Phú Khánh trực tiếp nuôi dưỡng, chị Trang không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí sơ thẩm ly hôn: Anh Bùi Phú Khánh phải nộp là 300.000đồng, đối trừ tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003148 ngày 26/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình, anh Khánh đã nộp đủ án phí.

4. Quyền kháng cáo: Anh Bùi Phú Khánh vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết. Chị Nguyễn Thị Trang vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi Hành án dân sự.

Cỡ chữ