vanban.org

Bản án 12/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Đặng Phúc M. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà bà T đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0004144 ngày 07/11/2025 tại Phòng thi hành án dân sự … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Th"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2026/HNGĐ-ST
Ngày 10/4/2026
“V/v: Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Nở.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hà Thị Hương.

2. Bà Nguyễn Thị Hoài Bão.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Tường Vy – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2026 tại Tòa án nhân dân khu vực 3 – Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 231/2025/TLST – HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2025, về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2026/QĐXXST- HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2026/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1981. (vắng mặt – có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Số nhà I, thôn F, xã E, tỉnh Đắk Lắk (trước đây là thôn F, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk).

- Bị đơn: Ông Đặng Phúc M, sinh năm 1974. (vắng mặt)

Địa chỉ: Số nhà I, thôn F, xã E, tỉnh Đắk Lắk (trước đây là thôn F, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Bà Nguyễn Thị T và ông Đặng Phúc M kết hôn trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay là UBND xã Q, tỉnh Đắk Lắk) vào ngày 01/3/2002. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hòa thuận, yêu thương, nhường nhịn nhau nhưng chỉ được thời gian ngắn. Thời gian về sau, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng cũng hòa giải nhiều lần nhằm mục đích đoàn tụ nhưng không thành. Xét thấy, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà T làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà T được ly hôn với ông Đặng Phúc M.

Về con chung: Trong quá trình chung sống giữa bà Nguyễn Thị T và ông Đặng Phúc M có 03 con chung là anh Đặng Thanh T1, sinh ngày 14/5/2000; chị Đặng Thị Lan A, sinh ngày 29/6/2003 và anh Đặng Đình H, sinh ngày 18/12/2007, từ khi sinh ra các con chung của ông bà đều phát triển khỏe mạnh bình thường. Hiện nay, các con chung đã trưởng thành nên bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn ông Đặng Phúc M đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai của ông M được.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.

Đối với Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn chưa thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Đặng Phúc M.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu giải quyết Ly hôn với bị đơn ông Đặng Phúc M cư trú tại thôn F, xã E, tỉnh Đắk Lắk là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đắk Lắk theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Đặng Phúc M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Đặng Phúc M kết hôn tuân thủ đúng quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Theo nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, thời gian về sau vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Vợ chồng cũng hòa giải nhiều lần nhằm mục đích đoàn tụ nhưng không thành. Xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn nên bà T có đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho bà T được ly hôn với ông M.

Qua xác minh được chính quyền địa phương cung cấp về tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông M như sau: Trong quá trình chung sống giữa bà T và ông M có xảy ra mâu thuẫn. Về nguyên nhân mâu thuẫn thì chính quyền địa phương không nắm được.

Do đó, có căn cứ để xác định mâu thuẫn tình cảm của vợ chồng ông bà đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận cho bà T được ly hôn với ông M là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Trong quá trình chung sống giữa bà Nguyễn Thị T và ông Đặng Phúc M có 03 con chung là anh Đặng Thanh T1, sinh ngày 14/5/2000; chị Đặng Thị Lan A, sinh ngày 29/6/2003 và anh Đặng Đình H, sinh ngày 18/12/2007, từ khi sinh ra các con chung của ông bà đều phát triển khỏe mạnh bình thường. Hiện nay, các con chung đã trưởng thành nên bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Đặng Phúc M.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà bà T đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0004144 ngày 07/11/2025 tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 3 - Đắk Lắk.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án hợp lệ.

Cỡ chữ