vanban.org

Bản án 12/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H ly hôn anh Đỗ Văn C.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí Dân sự Hôn nhân Gia đình sơ thẩm. Đối trừ số tiền 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí chị đã nộp, theo biên lai thu số 0006421 ngày 13/11/2025 của Thi hành án Dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Hiền đã thực hiện … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ ly hôn giữa Nguyễn Thị H - Đỗ Văn C"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H ly hôn anh Đỗ Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 - HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 16/01/2026
“V/v Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đàm Nhân Trác

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Đức và ông Phạm Văn San

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Anh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hải phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 319/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2025 về “ Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2025/QĐ-ST ngày 31 tháng 12 năm 2025 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh ngày 01/01/2004; Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; cấp ngày 15/9/2021; địa chỉ: Thôn Tri L, xã Nguyên G, thành phố Hải Phòng.

- Bị đơn: Anh Đỗ Văn C, sinh ngày 10/12/1987; Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; cấp ngày 05/9/2022; Nơi ĐKHKTT: Thôn Bình C, xã Nguyên G, thành phố Hải Phòng; Hiện đang cư trú tại Cộng hòa Séc.

( Tại phiên tòa vắng mặt chị Hiền, anh Cường)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị và anh Đỗ Văn C quen biết nhau, tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hà Thanh, huyện Tứ Kỳ cũ nay là xã Nguyên Giáp, thành phố Hải Phòng vào ngày 18/02/2025. Sau khi đăng ký kết hôn anh chị sống với nhau được 04 ngày, anh Cường đi lao động tại Cộng Hòa Séc nên anh chị chưa tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Sau khi anh Cường đi lao động, chị Hiền về sống cùng với bố mẹ đẻ, thời gian khoảng 02 tháng đầu anh vẫn thường xuyên liên lạc về cho chị nhưng sau đó anh không liên lạc với chị nữa, chị có liên lạc với anh nhưng anh không trả lời. Từ tháng 06/2025 đến nay anh chị không còn quan tâm đến nhau. Chị có đến gia đình bố mẹ đẻ anh Cường để hỏi lý do, chị được biết anh Cường vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình nhà chồng nhưng không liên lạc với chị, hiện nay anh Cường vẫn đang ở Cộng Hòa Séc, chị không biết địa chỉ cụ thể của anh Cường ở đâu và bố mẹ anh Cường cũng không biết địa chỉ cụ thể của anh Cường. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn lại được, hôn nhân giữa chị và anh Cường không thể có hạnh phúc nên chị làm đơn khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Cường.

Về con chung: Chị và anh Cường chưa có con chung.

Về tài sản chung: Chị và anh Cường không có tài sản chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại lời khai của bà Phạm Thị Thoa là mẹ đẻ của anh Cường xác định: Anh Cường và chị Hiền quen biết nhau, tự do tìm hiểu và tự nguyện đi đăng ký kết hôn tại UBND xã Hà Thanh, huyện Tứ Kỳ cũ nay là xã Nguyên Giáp, thành phố Hải Phòng với mục đích anh Cường làm thủ tục cho chị Hiền sang nước ngoài cùng anh Cường. Sau khi đăng ký kết hôn được 04 ngày anh Cường đi lao động tại Cộng Hòa Séc, địa chỉ cụ thể bà không biết, tuy nhiên anh Cường vẫn thường xuyên liên lạc về cho bà. Sau khi anh Cường đi chị Hiền về nhà bố mẹ đẻ ở, do không có thời gian nên hai bên gia đình chưa tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Thời gian đầu anh chị vẫn thường xuyên liên lạc với nhau nhưng được vài tháng bà cũng không hiểu lý do gì mà anh Cường, chị Hiền không liên lạc với nhau nữa, giữa anh chị có mâu thuẫn thế nào bà không biết. Trước khi chị Hiền làm đơn xin ly hôn anh Cường, chị Hiền có nói và bà đã khuyên bảo chị Hiền, anh Cường nhưng chị Hiền vẫn kiên quyết ly hôn. Khi bà nhận được văn bản tố tụng của Tòa án, bà đã thông báo cho anh Cường biết, anh Cường cũng không có ý kiến gì về việc chị Hiền làm đơn xin ly hôn. Nay chị Hiền kiên quyết ly hôn bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật và bà xác định anh Cường, chị Hiền chưa có con chung và chưa có tài sản chung.

Tại lời khai của bà Nguyễn Thị Thuận là mẹ đẻ của chị Hiền xác định: Anh Cường và chị Hiền quen biết nhau thời gian tìm hiểu quá ngắn, vội vàng và đi đăng ký kết hôn tại UBND xã Hà Thanh, huyện Tứ Kỳ cũ nay là xã Nguyên Giáp, thành phố Hải Phòng, hai bên gia đình chưa tổ chức lễ cưới cho anh chị theo phong tục địa phương. Sau khi đăng ký kết hôn được 04 ngày anh Cường đi lao động tại Cộng Hòa Séc, chị Hiền về sống cùng với gia đình bà. Thời gian đầu anh chị vẫn thường xuyên liên lạc với nhau và anh Cường cũng hỏi thăm gia đình bà nhưng sau khi anh đi được 02 tháng anh Cường không liên lạc với chị Hiền và gia đình bà nữa, vợ chồng không quan tâm gì đến nhau, một phần do chị Hiền còn quá trẻ, hai bên quá chênh lệch về tuổi tác, cách suy nghĩ khác nhau, mặt khác anh chị sống mỗi người một nơi không tin tưởng nhau thì khó có thể có cuộc sống hạnh phúc. Do mất lòng tin và không có tương lai gì nên chị Hiền đã làm đơn xin ly hôn anh Cường, theo quan điểm của bà, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Hiền ly hôn anh Cường để chị sớm ổn định cuộc sống.

Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân xã Nguyên Giáp thể hiện: Anh Cường, chị Hiền có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hà Thanh cũ nay là xã Nguyên Giáp, thành phố Hải Phòng vào ngày 18/02/2025. Sau khi đăng ký kết hôn, anh Cường đi lao động tại Cộng Hòa Séc, do anh Cường không có mặt ở địa phương nên mâu thuẫn anh chị thế nào địa phương không nắm được. Nay chị Hiền có đơn xin ly hôn anh Cường, theo quan điểm địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật để anh chị sớm ổn định cuộc sống.

Tại phiên tòa chị Hiền vắng mặt và giữ nguyên quan điểm xin ly hôn anh Cường. Anh Cường đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Hải Phòng phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 35; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Đỗ Văn C; Về án phí: Chị Hiền phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm đại diện Viện kiểm sát, HĐXX nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H và bị đơn anh Đỗ Văn C đều có hộ khẩu thường trú tại xã Nguyên Giáp, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự sửa đổi bổ sung năm 2025. Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hải Phòng thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Theo văn bản trả lời của Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an thành phố Hải Phòng xác định anh Đỗ Văn C đã xuất cảnh ngày 21/02/2025, chưa có thông tin nhập cảnh.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã đề nghị gia đình anh Cường cung cấp địa chỉ, gia đình anh Cường xác định, anh Cường đi xuất khẩu lao động tại Cộng Hòa Séc nhưng không rõ địa chỉ cụ thể, tuy nhiên anh Cường vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình. Bà Nguyễn Thị Thoa là mẹ đẻ anh Cường đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho anh Cường biết nhưng anh Cường cũng không có ý kiến gì. Tòa án cũng đã tiến hành giao, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Đến ngày mở phiên tòa lần thứ hai anh Cường vẫn vắng mặt. Chị Hiền đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

. Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hà Thanh, huyện Tứ Kỳ cũ nay là xã Nguyên Giáp, thành phố Hải Phòng vào ngày 18/02/2025 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau khi đăng ký kết hôn, anh chị sống cùng nhau được 04 ngày thì anh Cường đi lao động tại Cộng Hòa Séc, cuộc sống vợ chồng vui vẻ hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh chị có thời gian tìm hiểu về nhau quá ngắn, chưa hiểu hết về nhau, mặt khác, chị còn quá trẻ, hai người có sự chênh lệch về tuổi tác, mỗi người sống một nơi nên không tin tưởng nhau về nhau, không tôn trọng nhau. Do mâu thuẫn vợ chồng nên anh chị không còn liên lạc với nhau nữa. Thông qua gia đình, anh Cường cũng biết việc chị Hiền làm đơn xin ly hôn nhưng anh cũng không có ý kiến gì. Qua lời khai của chị Hiền, bà Thoa, bà Thuận xác định anh chị có mâu thuẫn, không còn quan tâm đến nhau. HĐXX xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Hiền và anh Cường đã trầm trọng, hôn nhân không có hạnh phúc, vợ chồng không ai quan tâm tới ai, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị Hiền ly hôn anh Cường là phù hợp với quy định tại Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Chị Hiền, anh Cường chưa có con chung.

Tài sản chung: Chị Hiền xác định không có, không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự (về Hôn nhân gia đình) sơ thẩm.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự sửa đổi bổ sung năm 2025; khoản 1 Điều 28; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; 273, 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điểm a, Khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1.Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H ly hôn anh Đỗ Văn C.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí Dân sự Hôn nhân Gia đình sơ thẩm. Đối trừ số tiền 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí chị đã nộp, theo biên lai thu số 0006421 ngày 13/11/2025 của Thi hành án Dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Hiền đã thực hiện xong nghĩa vụ về án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, anh Đỗ Văn C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ