- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HUỲNH S - THÁI THỊ THANH H"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Huỳnh S.
- Căn cứ chính? Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2026/HNGĐ-PT Ngày: 11 - 02- 2026 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Trung
Các Thẩm phán: Ông Lê Minh Đạt
Bà Ngô Thị Kim Châu
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hồng Nhả,tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2026/TLPT-HNPT ngày 19 tháng 01 năm 2026 về việc ly hôn.
Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 65/2025/HNGĐ-ST ngày 12/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 06/2025/QĐ-PT ngày 23 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Huỳnh S, sinh năm 1985;
Địa chỉ: ấp B, xã C, tỉnh Vĩnh Long.
Người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Phạm Minh L - Văn phòng L1 – Đoàn luật sư tỉnh V.
- Bị đơn: Chị Thái Thị Thanh H, sinh năm 1984;
Địa chỉ: ấp B, xã C, tỉnh Vĩnh Long.
- Người kháng cáo: Anh Huỳnh S là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn anh Huỳnh S trình bày:
Anh S và chị Thái Thị Thanh H trước khi kết hôn có tìm hiểu nhau được khoảng 01 năm và sau khi được sự đồng ý của cha mẹ hai bên anh S và chị H tự nguyện kết hôn vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là xã C, tỉnh Vĩnh Long). Sau ngày cưới vợ chồng anh sống chung với gia đình bên vợ. Anh S công tác tại Trường đại học T, còn chị H đang học, sau đó chị H học việc tại Trường đại học T và làm tại V bên lĩnh vực bán hàng. Vợ chồng anh sống hạnh phúc đến khoảng năm 2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do chị H ghen tuông khi anh S đang học tại Campuchia với người phụ nữ khác, anh S đã có giải thích giữa anh S với người phụ nữ đó không có chuyện gì nhưng chị H không tin. Sau khi anh S học xong tại Campuchia vào đầu năm 2023 anh S về nước vẫn ở nhà chung bên vợ. Trong khoảng thời gian này giữa vợ chồng anh S vẫn sống bình thường không có mâu thuẫn gì thêm. Đến khoảng tháng 5-6 năm 2025 chị H phát tán tin nhắn giữa anh S với người phụ nữ khác cho gia đình 2 bên biết (chung nhóm của gia đình), đến nhà trường nơi anh làm việc, làm ảnh hưởng uy tín danh dự của anh, xúc phạm gia đình hai bên.
Nay anh S thấy hai vợ chồng bất đồng ý kiến, không thể nào chung sống với nhau được nữa. Về hôn nhân: Anh Huỳnh S yêu cầu được ly hôn với chị Thái Thị Thanh H.
Về con chung: Vợ chồng anh S có 01 người con chung là Huỳnh Thái Gia H1, sinh ngày 21/4/2010, hiện nay đang sống chung với chị H, khi ly hôn anh S đồng ý giao con chung cho vợ là Thái Thị Thanh H nuôi dưỡng, anh S đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000 đồng cho đến con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: không có.
Bị đơn chị Thái Thị Thanh H trình bày:
Chị và anh S tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh vào năm 2009. Sau ngày cưới vợ chồng chị sống chung với cha mẹ ruột của chị H. Anh S là giáo viên, còn chị làm tại cửa hàng V. Hai vợ chồng chị sống rất là hạnh phúc, không có mâu thuẫn. Sau này chị H bị bệnh, anh S kêu chị ở nhà trị bệnh và đưa rước con đi học. Nên chị H nghỉ việc ở nhà điều trị bệnh và làm nội trợ. Tuy nhiên do anh S có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác bên ngoài, dẫn đến vợ chồng có sự bất hoà. Nhưng sau này anh S nói anh S bỏ hết chỉ lo cho vợ con, nên chị H đã chấp nhận bỏ qua tất cả và hai vợ chồng sống bình thường. Vợ chồng chị vẫn sinh hoạt chuyện vợ chồng bình thường cho đến ngày Toà án tổ chức hoà giải và anh S đã hứa lên Toà rút đơn lại, không có chuyện vợ chồng chị sống ly thân.
Nay chị H xét thấy còn rất thương chồng con, chị H chấp nhận bỏ qua mọi sai lầm của anh S để vợ chồng cùng đoàn tụ, lo nuôi dạy con, chị H không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh S.
Về con chung: Có 01 người con chung Huỳnh Thái Gia H1, sinh ngày 21/4/2010, hiện đang sống chung với chị H, nếu Toà án giải quyết cho anh S ly hôn với chị thì chị H có yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị H và anh S có tài sản chung không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: không có.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 65/2025/HNGĐ-ST ngày 12/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Vĩnh Long đã xử:
Không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Huỳnh S đối với chị Thái Thị Thanh H.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên tiền án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 15/12/2025 anh Huỳnh S kháng cáo yêu cầu sửa toàn bộ bản án cho anh được ly hôn với chị H.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Anh S và chị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn hợp pháp theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, quá trình chung sống đã phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng. Vợ chồng không còn sự quan tâm, tôn trọng lẫn nhau, chị H nghi ngờ anh S có quan hệ với người phụ nữ khác tố cáo anh S tại nơi công tác làm mất uy tín, danh dự của anh S. Mâu thuẫn trầm trọng đời sống chung không đạt được nên đề nghị Tòa án chấp nhận cho anh S được ly hôn với chị H.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long về vụ án:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm, các đương sự đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Mâu thuẫn giữa anh S và chị H là trầm trọng, đời sống chung không đạt được đề nghị Tòa án chấp nhận cho anh S được ly hôn với chị H. Giao cháu Huỳnh Thái Gia H1, sinh ngày 21/4/2010, cho chị Thái Thị Thanh H nuôi dưỡng, anh S cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000 đồng cho đến con đủ 18 tuổi. Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của anh Huỳnh S được chấp nhận nên anh không phải chịu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự và Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Xét yêu cầu kháng cáo của anh Huỳnh S xin được ly hôn với chị H.
Từ khi anh Huỳnh S và chị Thái Thị H kết hôn nhau đến tháng 5/2025 thì vợ chồng chung sống hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì xảy ra. Mâu thuẫn giữa vợ chồng anh S và chị H chỉ mới phát sinh từ tháng 5/2025, nguyên nhân mâu thuẫn là do chị H nghi ngờ anh S có quen với người phụ nữ khác.
Xét thấy lý do mà anh Huỳnh S đưa ra để cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng và xin ly hôn là chưa có tính thuyết phục. Trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa hôm nay, chị Thái Thị Thanh H luôn tha thiết mong Tòa án hòa giải, động viên để vợ chồng đoàn tụ. Chị Thái Thị Thanh H đang bị bệnh phải điều trị lâu dài cần người chăm sóc. Cháu Huỳnh Thái Gia H1 là con chung của anh chị cũng có văn bản đề nghị Tòa án không cho cha mẹ ly hôn, cháu cần tình yêu thương, quan tâm che chở của cha mẹ. Do đó, để tạo điều kiện cho chị H và anh S có thời gian suy nghĩ và có quyết định chính xác đối với vấn đề hôn nhân của mình, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh Huỳnh S xin ly hôn với chị Thái Thị Thanh H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn và kiểm sát viên hội đồng xét xử có cân nhắc xem xét nhưng không có cơ sở để chấp nhận.
Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của anh S không được chấp nhận nên anh phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Huỳnh S.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 65/2025/HNGĐ-ST ngày 12/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Vĩnh Long.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Huỳnh S.
Về án phí phúc thẩm: Anh Huỳnh S phải chịu 300.000 đồng. Anh S đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu số 0012137 ngày 15/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long nên cấn trừ.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Vĩnh Long; - TAND khu vực 10 – Vĩnh Long; - Phòng THDS khu vực 10 – Vĩnh Long; - Các đương sự (theo địa chỉ); - Lưu: TGĐ&NCTN, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thành Trung |