vanban.org

Bản án 12/2025/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai Tuyên án 13/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về điều luật áp dụng: Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc L 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc Lợi - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC – GIA LAI
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HSST
Ngày: 13/8/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Síu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Quách Đình Hoằng.

2. Bà Ngô Thị Thao.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Đại Bình - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực - Gia Lai, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực - Gia Lai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thắng Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực - Gia Lai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 99/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1994 tại Gia Lai; Nơi thường trú: Trường Chinh, tổ 2, phường H, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Buôn bán; Học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Căn cước công dân: 0640… con ông Nguyễn Ngọc L và bà Trần Thị N; vợ Trần Trúc T (đã ly hôn) và 01 Nguyễn Trần G; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Về nhân thân:

Ngày 26/02/2014, bị Công an phường T ra Quyết định xử phạt hành chính (phạt tiền) về hành vi Gây rối trật tự công cộng (đã chấp hành xong).

Ngày 05/4/2017, bị UBND phường Ch ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn 03 tháng (đã chấp hành xong).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/02/2025 đến ngày 28/02/2025 bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực P. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Nguyễn Ngọc L. Nơi cư trú:Trường Chinh, phường H, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

Bà Trần Thị N. Nơi cư trú: Trường Chinh, phường H, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

Người chứng kiến: Ông Nguyễn Quốc Đ. Nơi cư trú: Tổ 2 phường H, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Ngọc L sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine từ khoảng đầu năm 2020. Qua các mối quan hệ xã hội, bị cáo L có được số điện thoại của một đối tượng tên Minh (không rõ nhân thân, lai lịch) ở Thành phố Hồ Chí Minh, có bán ma túy. Khoảng 14 giờ ngày 15/01/2025, bị cáo L nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng nên đã gọi điện thoại cho Minh hỏi mua ma túy, loại Methamphetamine với giá 7.000.000 đồng thì Minh đồng ý. Khoảng 05 giờ ngày 16/01/2025, bị cáo L đi xe khách đến Thành phố Hồ Chí Minh, sau khi đi công việc xong thì bị cáo L gọi điện thoại cho Minh và hẹn gặp nhau tại đường 3 Tháng 2, Quận 10 (cũ), Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 15 giờ ngày 16/01/2025, bị cáo L đến điểm hẹn gặp M, đưa cho M số tiền 7.000.000 đồng thì Minh giao cho Lợi 01 bì nilon chứa ma túy và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (nỏ). Sau đó, bị cáo L ra Bến xe miền Đông đón xe khách đi về nhà tại số 739 đường Trường Chinh, Tổ 2, phường Chi Lăng (cũ), tỉnh Gia Lai. Khi về nhà, tại phòng ngủ, bị cáo L đã nhiều lần lấy ma túy ra sử dụng một mình; phần còn lại, bị cáo L cất giấu trong hộc bàn trong nhà với mục đích để khi có nhu cầu thì lấy ra sử dụng. Đến 08 giờ ngày 25/02/2025, khi bị cáo L đang ở nhà thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Pleiku (cũ) phối hợp với Công an phường Chi Lăng (cũ) kiểm tra, bắt quả tang; thu giữ vật chứng, gồm: 01 bì nilon bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể (được niêm phong theo quy định); 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng kèm thẻ sim.

Tiến hành xét nghiệm, xác định: Nguyễn Ngọc L dương tính với ma túy, loại Methamphetamine.

Qua giám định, tại bản Kết luận giám định số 236/KL-KTHS ngày 28/02/2025 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai, kết luận: “Chất màu trắng dạng tinh thể có trong 01 (một) bì nilon được niêm phong trong bì công văn (mô tả tại mục Mẫu cần giám định) là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 3,9833g” (BL số: 22, 23).

Tại Cáo trạng số 120/CTr-VKS ngày 20 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo mức án từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung.

- Về xử lý vật chứng:

Tịch thu sung công: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng kèm thẻ sim.

Tịch thu tiêu huỷ: Chất ma túy còn lại sau giám định, có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai.

- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng truy tố. Bị cáo không nói lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về tội danh và điều luật áp dụng:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, cũng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Bị cáo Nguyễn Ngọc L sử dụng chất ma túy từ đầu năm 2020. Vào khoảng 15 giờ ngày 16/01/2025, tại đường 3 Tháng 2, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Nguyễn Ngọc L đã mua 01 bì ma túy (loại Methamphetamine) với giá 7.000.000 đồng của đối tượng M và được Minh cho thêm bộ dụng cụ để sử dụng ma túy. Sau khi mua được ma túy, bị cáo L mang về nhà ở số 739 đường Trường Chinh, Tổ 2, phường Chi Lăng (cũ), tỉnh Gia Lai; tại phòng ngủ, bị cáo L đã nhiều lần lấy bì ma túy đã mua ra sử dụng; số còn lại, bị cáo L cất giấu trong hộc bàn để sử dụng dần. Đến 08 giờ ngày 25/02/2025, khi bị cáo L đang ở nhà thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Pleiku (cũ) bắt quả tang cùng vật chứng là 01 bì nilon bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể và 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng kèm sim số. Qua giám định, kết luận chất thu giữ được là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 3,9833g.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc L đủ dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Viện kiểm sát nhân dân khu vực - Gia Lai, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo ra trước Tòa án nhân dân để xét xử theo tội danh và điều luật như Bản cáo trạng viện dẫn là có căn cứ và đúng pháp luật.

. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội.

Bị cáo là người đã thành niên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tác hại của ma túy nhưng vì thỏa mãn cơn nghiện và ý thức coi thường pháp luật nên đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý của Nhà nước.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng nhân thân xấu như: ngày 26/02/2014, bị Công an phường T ra Quyết định xử phạt hành chính (phạt tiền) về hành vi Gây rối trật tự công cộng (đã chấp hành xong); Ngày 05/4/2017, bị UBND phường C ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn 03 tháng (đã chấp hành xong).

Về hình phạt:

Từ phân tích, đánh giá trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt tù là có căn cứ, cần có mức án nghiêm khắc tương ứng với với hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Hành vi phạm tội của bị cáo không thu lợi, bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

. Xử lý vật chứng:

Chất ma túy còn lại sau giám định trong 01 bì công văn ghi số 236/PC09 ngày 28/02/2025, có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành cần tiêu hủy.

01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng kèm thẻ sim (mặt sim có dãy số 89840 48000 91622 1093) là tài sản bị cáo dùng liên lạc mua ma túy cần tịch thu vào ngân sách nhà nước.

. Đối với đối tượng nam thanh niên bán ma túy cho bị cáo: Do bị cáo không biết được nhân thân, lai lịch; Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa có căn cứ xử lý là phù hợp.

. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về điều luật áp dụng:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; kho ản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc L 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2025.

4. Các vấn đề khác:

- Về xử lý vật chứng:

Tịch thu vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng kèm thẻ sim (mặt sim có dãy số 89840 48000 91622 1093).

Tịch thu tiêu huỷ: Ma túy còn lại sau giám định trong bì công văn ghi số 236/PC09 ngày 28/02/2025, có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai.

Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 114/2025 ngày13 tháng 6 năm 2025 giữa Công an tỉnh Gia Lai và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 7 – Gia Lai).

- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc L phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ