vanban.org

Bản án 12/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 21/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 24 (Hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 09/10/2024. Hình phạt bổ sung: Tịch thu một phần tài sản ®èi víi bÞ c¸o là 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE vỏ màu xám, đen đã cũ, số imei: 356718112956559 và tiền Việt Nam: 150.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T phạm tội ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
T PHỐ VIỆT TRÌ
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HS-ST
Ngày 21- 01- 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN T PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Kim Liên

Các Hội thẩm nhân dân: 1/Ông Nguyễn Duy Tính

2/Ông Vũ Hùng Tuấn

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Đức Minh - Thư ký Tòa án nhân dân T phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân T phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân T phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 164/2024/TLST - HS ngày 17 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST - HS ngày 07 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T; sinh ngày 18/4/1991 tại Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; nơi thường trú: Khu 11, xã Kim Đức, T phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Quân, sinh năm 1961, con bà Đào Thị Lường, sinh năm 1962; vợ, con: Chưa có

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/10/2024. Qua xác minh tại chính quyền địa phương và gia đình xác định bị cáo không có việc làm ổn định, thường xuyên lang thang tụ tập với các đối tượng nghiện ma tuý khác trong và ngoài địa bàn gây mất an ninh trật tự tại địa phương nếu để bị cáo ở ngoài có khả năng sẽ tiếp tục phạm tội mới. Do đó ngày 14/10/2024, cơ quan điều tra ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo và ra Lệnh tạm giam đối với T, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại giam Công an tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 00 giờ 20 phút ngày 09/10/2024, tại khu vực thuộc khu 7, xã Hy Cương, T phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma tuý- Công an T phố Việt Trì đang làm nhiệm vụ kiểm tra, phát hiện một người đàn ông có biểu hiện vi phạm pháp luật, người này tự khai họ tên là Nguyễn Văn T, sinh ngày 18/4/1991, hộ khẩu thường trú: Khu 11, xã Kim Đức, T phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Quá trình kiểm tra, T tự giác giao nộp cho cơ quan Công an 01 túi ma túy có đặc điểm là 01 túi nilon màu trắng một đầu có khuy bấm bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, T khai nhận đây là túi ma tuý đá của T mục đích để sử dụng. Tại chỗ, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T, niêm phong thu giữ túi ma túy có đặc điểm như trên. Ngoài ra, cơ quan Công an còn thu giữ của T: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE vỏ màu xám đen đã cũ, số imei: 3567181112956558 kèm 01 sim số 0382.180.419 trong máy và số tiền 150.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra xét nghiệm ma túy bằng que thử nước tiểu đối với Nguyễn Văn T. Kết quả T âm tính với chất ma túy. Kết luận: T không sử dụng ma tuý tại thời điểm xét nghiệm.

Ngày 09/10/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định đối với số chất rắn dạng tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn T. Tại Bản kết luận giám định số 1395/KLGĐ ngày 11/10/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:

“Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,712 gam, loại: Methamphetamine.

*Methamphetamine là chất ma túy năm trong danh mục IIC, số thứ tự: 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định danh mục các chất ma túy và tiền chất...”.

Hoàn trả lại 0,500 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng là mẫu vật còn lại sau khi giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T khai nhận nguồn gốc ma tuý khi bị thu giữ và diễn biến hành vi phạm tội cụ thể như sau: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 23 giờ ngày 08/10/2024, Nguyễn Văn T một mình gọi xe taxi ven đường (T không nhớ hãng xe và biển số xe) đi sang khu vực bờ hồ thuộc huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc để tìm mua ma tuý. Tại đây, T gặp một người đàn ông khoảng 35 tuổi giới thiệu tên là Bách, T hỏi và mua được của Bách 01 túi ma tuý có đặc điểm là túi nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma tuý đá với giá 1.000.0000 đồng. Sau đó Bách đi đâu T không biết, còn T cầm túi ma tuý vừa mua được ở tay phải rồi đi xe taxi ven đường (T không nhớ hãng xe và biển số xe) về nhà. Khi đi đến gần Nhà nghỉ Quang Phúc thuộc xã Hy Cương, T phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, T xuống xe đi bộ để tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác Công an T phố Việt Trì phát hiện và bắt quả tang thu giữ vật chứng và tài sản của T như đã nêu trên.

Đối với người đàn ông tên là Bách là người mà T khai đã bán ma tuý cho T. Do T không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, ngoài lời khai của T không có tài liệu nào khác chứng minh nên cơ quan điều tra không xác định được.

Đối với những người lái xe taxi chở T đi mua ma tuý do T không nói cho họ biết T đi mua ma túy, T không nhớ hãng xe và biển số xe nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Về vật chứng, tài sản bị thu giữ: 01 bì niêm phong số 1395/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả bên trong có chứa 0,500 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE vỏ màu xám đen đã cũ, số imei: 356718112956559 kèm 01 sim số 0382.180.419 trong máy, đây là điện thoại di động của T dùng để liên lạc hàng ngày; tiền Việt Nam: 150.000 đồng là tiền do T lao động mà có.

Về điều kiện kinh tế của bị cáo: Qua xác minh, cơ quan điều tra xác định: ngoài tài sản bị thu giữ bị cáo T không có tài sản riêng gì có giá trị.

Tại bản Cáo trạng số 01/CT-VKSVT ngày 16/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân T phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố như bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố Nguyễn Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 24 tháng đến 27 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 09/10/2024.

Về hình phạt bổ sung: ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n T phố Việt Trì ®Ò nghÞ ¸p dông khoản 5 §iÒu 249 Bộ luật h×nh sự tịch thu một phần tài sản bị thu giữ ®èi víi bÞ c¸o 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE vỏ màu xám đen đã cũ, số imei: 356718112956559 và tiền Việt Nam: 150.000 đồng là tiền do T lao động mà có.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong số 1395/KL – KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả 0,500 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến gám định; 01 sim thuê bao số 0382.180.419.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo T nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất hối hận về việc làm của mình, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cơ quan cảnh sát điều tra Công an T phố Việt Trì. Viện kiểm sát nhân dân T phố Việt Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, vật chứng, kết luận giám định của cơ quan giám định cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Hồi 00 giờ 20 phút ngày 09/10/2024, tại khu 7, xã Hy Cương, T phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,712 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma tuý - Công an T phố Việt Trì kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang thu giữ vật chứng. Do vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Tàng trữ tr¸i phÐp chÊt ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân T phố Việt Trì truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội Hành vi đó không những trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý ma tuý của Nhà nước mà còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do vậy, cần đưa bị cáo ra xét xử và có hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Trước khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cần xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự h×nh sù nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo T khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, khi lượng hình cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh, cơ quan điều tra xác định bị cáo T không có tài sản riêng gì có giá trị. Tuy nhiên quá trình điều tra Công an thu giữ của T: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE vỏ màu xám, đen đã cũ, số imei: 3567181112956558 kèm 01 sim số 0382.180.419 trong máy và số tiền 150.000 đồng là tài sản của bị cáo không liên quan gì đến hành vi phạm tội nên cần áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự cần tịch thu một phần tài sản đối với bị cáo là 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE vỏ màu xám đen đã cũ, số imei: 356718112956559 và tiền Việt Nam: 150.000 đồng, đây là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội.

Về xử lý vật chứng, các biện pháp tư pháp:

Cần tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong số 1395/KL – KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả 0,500 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến gám định; 01 sim thuê bao số 0382.180.419.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/12/2024).

Đối với người đàn ông tên là Bách là người mà T khai đã bán ma tuý cho T. Do T không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, ngoài lời khai của T không có tài liệu nào khác chứng minh nên cơ quan điều tra không xác định được.

Đối với những người lái xe taxi chở T đi mua ma tuý do T không nói cho họ biết T đi mua ma túy, T không nhớ hãng xe và biển số xe nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; kho¶n 2 ĐiÒu 135 và khoản 2 Điều 136 của Bé luËt tè tông h×nh sù; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 24 (Hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 09/10/2024.

Hình phạt bổ sung: Tịch thu một phần tài sản ®èi víi bÞ c¸o là 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE vỏ màu xám, đen đã cũ, số imei: 356718112956559 và tiền Việt Nam: 150.000 đồng.

[2] Về xử lý vật chứng, các biện pháp tư pháp:

Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong số 1395/KL – KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả 0,500 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến gám định; 01 sim thuê bao số 0382.180.419.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/12/2024).

[3] Về án phí:

Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000® (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Nguyễn Văn T có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm./.

Cỡ chữ