vanban.org

Bản án 12/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 20/05/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HD
TỈNH BL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HS-ST
Ngày: 20-5-2025

NHÂN DANH

N ỚC CỘNG H A

HỘI CHỦ NGHĨA VIỆ NAM

A N NH N D N H ỆN HD - ỈNH BL

Th nh ph n Hội ng t

ơ thẩm g m có:

Th m ph n - Ch t a phi n t a: Bà rương Hồng Diễm

C c hội th m nh n d n: Ông Lê Văn huyền và ông Nguyễn Hữu Em

Thư ký phi n t a: Ông Tô Hoàng Kha, Thư ký T a n nh n d n huyện HD.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HD tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Tốt và ông Dương Hiếu Nghiệm, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở y ban nhân dân xã NTL A, huyện HD, tỉnh BL xét xử sơ th m lưu động công khai vụ án hình sự sơ th m thụ lý số: 09/2025/TLST-HS, ngày 29 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS, ngày 09 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo: H và tên: Phạm Nguyễn Đăng S (tên g i khác: không có), sinh ngày 01/01/1973 tại huyện HD, tỉnh BL; Nơi cư trú: Ấp Nội Ô, thị trấn ND, huyện HD, tỉnh BL; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Thợ bạc; trình độ h c vấn: 12/12; con ông Phạm Đăng Anh, sinh năm 1934 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1947; có vợ tên Lê Hồng G, sinh năm 1980; có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án: Không; Tiền sự: 01 tiền sự. Vào ngày 08/01/2024 bị Công an thị trấn ND, huyện HD, tỉnh BL xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi Đ nh bạc, chấp hành xong ngày 07/5/2024, chưa được xem là chưa bị xử lý vi phạm hành chính; Nhân thân: Vào ngày 22/6/2010 bị Công an huyện HD, tỉnh BL xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đ nh bạc; Bị cáo bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/02/2025 cho đến nay (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Đào Văn T, sinh năm 1974 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: ấp TN, thị trấn ND, huyện HD, tỉnh BL

Ông Lý Vĩnh L, sinh năm 1986 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: ấp N Ô, thị trấn ND, huyện HD, tỉnh BL

Ông Tô Thanh Ph, sinh năm 1973 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: ấp N Ô, thị trấn ND, huyện HD, tỉnh BL

Ông Trần Út M, sinh năm 1977 (vắng mặt không có lý do)

Địa chỉ: ấp TB, xã NH, huyện HD, tỉnh BL

Ông Trần Minh Th, sinh năm 1985 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: ấp N Ô, thị trấn ND, huyện HD, tỉnh BL

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ n được tóm tắt như sau: Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 11/12/2024, Phạm Nguyễn Đăng S cùng Đào Văn T, Phạm Minh Th, Lý Vĩnh L, Nguyễn Văn Ph, Trần Đăng E, Tô Thanh Ph, Trần Út M, Trần Minh Th, Đặng Văn Đ, Đặng Văn Bé S, Lương Thanh M, Nguyễn Thanh Q đến quán cà phê c a bà Nguyễn Thị Bé S thuộc ấp N Ô, thị trấn ND, huyện HD, tỉnh BL để uống nước. Lúc này, S và một số người kh c dùng điện thoại mở ứng dụng Google tìm kiếm trang “da ga 67” để xem các trận gà. Lúc đó, có một người không x c định h t n, địa chỉ cụ thể r S, T, M, L, Ph và Th c cược ăn thua bằng tiền đối với các trận gà, tất cả đồng ý. Khi c cược c c đối tượng tự thỏa thuận với nhau, không ai đứng ra tổ chức. Đến 13 giờ 55 phút cùng ngày, bị lực lượng Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ c a:

Phạm Nguyễn Đăng S 3.080.000 đồng (ba triệu không trăm t m chục nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y18S màu xanh – trắng, 01 (một) gi để điện thoại bằng nhựa màu đen, 01 (một) cục ph t Bluetooth màu đen, tất cả đã qua sử dụng;

Đào Văn T 1.915.000 đồng (một triệu chín trăm M lăm nghìn đồng), 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO V2026 màu đen, đã qua sử dụng;

Phạm Minh Th 820.000 đồng (t m trăm hai chục nghìn đồng, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y15S màu xanh – đen, đã qua sử dụng;

Lý Vĩnh L 3.940.000 đồng (ba triệu chín trăm bốn chục nghìn đồng), 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO V2026 màu xanh – trắng, đã qua sử dụng;

Nguyễn Văn Ph 840.000 đồng (t m trăm bốn chục nghìn đồng);

Trần Đăng Em 1.150.000 đồng (một triệu một trăm năm chục nghìn đồng);

Tô Thanh Ph 1.355.000 đồng (một triệu ba trăm năm mươi lăm nghìn đồng), 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, loại cảm ứng màu đen, đã qua sử dụng;

Trần Út M 3.140.000 đồng (ba triệu một trăm bốn chục nghìn đồng), 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y22S màu xanh – đen, đã qua sử dụng;

Trần Minh Th 1.780.000 đồng (một triệu, bảy trăm t m chục nghìn đồng), 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, loại cảm ứng màu xanh, đã qua sử dụng;

Đặng Văn Bé S 1.050.000 đồng (một triệu không trăm năm chục nghìn đồng), 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL, loại phím bấm, đã qua sử dụng;

Đặng Văn Đ 135.000 đồng (một trăm ba mươi lăm nghìn đồng), 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE SE màu đen, đã qua sử dụng;

Lương Thanh M 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 15 PROMAX màu bạc, đã qua sử dụng;

Nguyễn Thanh Q 15.000 đồng (M lăm nghìn đồng), 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y21 màu xanh, đã qua sử dụng;

Nguyễn Thị Bé S 1.130.000 đồng (một triệu, một trăm ba chục nghìn đồng), 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A95 màu đen, đã qua sử dụng.

Qu trình điều tra x c định như sau:

Phạm Nguyễn Đăng S sử dụng điện thoại c a mình xem đ gà tr n trang “da ga 67”, dùng 750.000 đồng c cược 08 trận gà với c c đối tượng khác. S không nhớ thứ tự từng trận gà và thắng thua cụ thể như thế nào. Nhưng khi bị bắt quả tang, kết quả S thắng cược 150.000 đồng, đã dùng 10.000 đồng trả tiền nước uống, cụ thể:

S dùng 100.000 đồng c cược với Trần Út M 01 trận gà, không nhớ bắt gà màu gì, kết quả thua cược và đã chung cho M số tiền 100.000 đồng.

S dùng 200.000 đồng cá cược với Đào Văn T 02 trận gà (c cược 100.000 đồng/ 01 trận gà), không nhớ bắt gà màu gì và kết quả thắng hay thua.

S dùng 350.000 đồng cá cược với một người đàn ông lạ mặt 04 trận gà (có 03 trận gà c cược 100.000 đồng/ 01 trận và 01 trận gà c cược 50.000 đồng), không nhớ bắt gà màu gì và kết quả thắng hay thua.

S dùng 100.000 đồng cá cược với Lý Vĩnh L 01 trận gà, S bắt gà có quấn băng keo màu xanh, L bắt gà có quấn băng keo màu đỏ, khi trận gà đang diễn ra thì lực lượng Công an đến bắt quả tang, chưa x c định thắng thua.

Tổng số tiền Phạm Nguyễn Đăng S sử dụng vào việc đ nh bạc để xem xét xử lý tr ch nhiệm hình sự trong 08 trận là: 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng), trong đó số tiền S tham gia đ nh bạc là 750.000 đồng và tiền thắng cược là 150.000 đồng.

Đào Văn T sử dụng điện thoại c a mình xem đ gà tr n trang “da ga 67”, dùng 500.000 đồng c cược 05 trận gà với c c đối tượng khác, không nhớ thứ tự từng trận gà và kết quả thắng thua. Nhưng đến khi bị bắt, kết quả T thắng cược 250.000 đồng, T đã dùng 35.000 đồng mua 01 gói thuốc l và 01 chai nước, cụ thể:

T dùng 200.000 đồng c cược với S 02 trận gà (c cược 100.000 đồng/ 01 trận gà), không nhớ bắt gà màu gì và kết quả thắng hay thua;

T dùng 300.000 đồng c cược với người đàn ông lạ mặt 03 trận gà (có 02 trận gà c cược 50.000 đồng/ 01 trận gà và 01 trận gà c cược 200.000 đồng), không nhớ bắt gà màu gì và kết quả thắng hay thua.

Tổng số tiền Đào Văn T sử dụng vào việc đ nh bạc để xem xét xử lý tr ch nhiệm hình sự trong 05 trận là: 750.000 đồng, trong đó số tiền T tham gia đ nh bạc là 500.000 đồng và tiền thắng cược là 250.000 đồng.

Trần Út M xem đ gà tr n điện thoại c a S, dùng 200.000 đồng tham gia c cược 02 trận gà (c cược số tiền 100.000 đồng/ 01 trận gà) với Phạm Nguyễn Đăng S và Trần Minh Th, không nhớ thứ tự từng trận gà và bắt gà màu gì. Kết quả: M thắng cược S 01 trận gà với số tiền 100.000 đồng, đã nhận tiền; trận gà c n lại c cược với Th đang diễn ra chưa x c định thắng thua, thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.

Tổng số tiền Trần Út M sử dụng vào việc đ nh bạc để xem xét xử lý tr ch nhiệm hình sự trong 02 trận gà là: 300.000 đồng, trong đó số tiền Út M tham gia đ nh bạc là 200.000 đồng và tiền thắng cược là 100.000 đồng .

Lý Vĩnh L xem đ gà tr n điện thoại c a S, dùng 100.000 đồng c cược 01 trận gà với S, L bắt gà có quấn băng keo màu đỏ, S bắt gà có quấn băng keo màu xanh, trận gà đang diễn ra chưa x c định thắng thua thì lực lượng Công an bắt quả tang. Số tiền Lý Vĩnh L sử dụng vào việc đ nh bạc để xem xét xử lý tr ch nhiệm hình sự là 100.000 đồng.

Tô Thanh Ph xem đ gà tr n điện thoại c a người đàn ông lạ mặt, dùng 100.000 đồng c cược 01 trận gà với người đàn ông lạ mặt, không nhớ bắt b n gà màu gì, kết quả Ph thua, đã chung cho người đàn ông lạ mặt số tiền là 100.000 đồng. Số tiền Tô Thanh Ph sử dụng vào việc đ nh bạc để xem xét xử lý tr ch nhiệm hình sự là 100.000 đồng.

Trần Minh Th xem đ gà tr n điện thoại c a S, dùng 100.000 đồng c cược với Trần Út M 01 trận gà. Th bắt gà có quấn bắng keo màu đỏ, khi trận gà đang diễn ra chưa x c định thắng thua, thì lực lượng Công an bắt quả tang. Số tiền Trần Minh Th sử dụng vào việc đ nh bạc để xem xét xử lý tr ch nhiệm hình sự là: 100.000 đồng.

Phạm Nguyễn Đăng S là người đã bị xử phạt hành chính về hành vi đ nh bạc, chấp hành xong nhưng chưa được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính n n Cơ quan Cảnh s t điều tra Công an huyện HD đã khởi tố điều tra, áp dụng biện ph p ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Phạm Nguyễn Đăng S từ ngày 11/02/2025 đến nay.

Cáo trạng số: 09/CT-VKSHD ngày 29/4/2025 c a Viện kiểm sát nhân dân huyện HD đã truy tố bị cáo Phạm Nguyễn Đăng S về tội “Đ nh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 54; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Nguyễn Đăng S từ 03 đến 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm s t c n đề xuất xử lý vật chứng, án phí và các vấn đề kh c có li n quan đến vụ án.

Trong qu trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo S thừa nhận hành vi phạm tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tr n cơ sở nội dung vụ n, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ n đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp c a hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố và xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng c a Điều tra viên, Kiểm sát viên trong qu trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về th m quyền, trình tự th tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Qu trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định c a người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng c a người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

.Trong qu trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa lời khai c a bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai trong qu trình điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ nên Hội đồng xét xử có đ căn cứ để kết luận:

Xuất phát từ động cơ vụ lợi nên vào khoảng 13 giờ ngày 11/12/2024, tại quán cà phê c a bà Nguyễn Thị Bé S thuộc ấp N Ô, thị trấn ND, huyện HD, tỉnh BL bị cáo Phạm Nguyễn Đăng S là người đã bị xử phạt hành chính về hành vi đ nh bạc, chấp hành xong nhưng chưa được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Đã thực hiện hành vi đ nh bạc bằng hình thức sử dụng điện thoại xem đ gà tr n trang “da ga 67”, dùng 750.000 c cược 08 trận gà với Trần Út M, Đào Văn T, Lý Vĩnh L và một người đàn ông lạ mặt không rõ nhân thân. Kết quả thắng cược 150.000 đồng n n tổng số tiền bị cáo S sử dụng vào việc đ nh bạc là 900.000 đồng. Như vậy, Hội đồng xét xử có đ căn cứ x c định hành vi đ nh bạc bằng hình thức sử dụng điện thoại xem đ gà và đ nh cược thắng thua bằng tiền c a bị cáo S đã thỏa mãn tội “Đ nh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội c a bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã x m phạm vào c c quy định c a Nhà nước về trật tự công cộng, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Hơn nữa, hành vi phạm tội c a bị cáo có thể làm n y sinh nhiều loại tội phạm khác, là nguyên nhân gây nên những Thệt hại vật chất. Bị cáo nhận thức được hành vi đ nh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Từ đ nh bạc trái phép sẽ làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác, gây mất an ninh tại địa phương, bất bình trong nhân dân, vì vậy vụ án cần phải được xét xử tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội c a bị c o để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo S thành kh n khai b o, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm tr ng được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Không có

. Đối với quan điểm đề xuất c a Viện kiểm s t đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo với mức hình phạt dưới khung hình phạt mà Viện kiểm s t đã truy tố: Xét thấy, trong qu trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo S đã thành kh n khai b o, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm tr ng được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; bản thân bị c o là lao động chính trong gia đình, có mẹ già đang bị bệnh tai biến cần sự chăm sóc, nên Hội đồng xét xử áp dụng thêm khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và xử phạt bị cáo với mức hình phạt dưới khung hình phạt mà Viện kiểm s t đã truy tố.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu h y đối với 01 (một) sim c a nhà mạng Vinaphone (trên thẻ sim có dãy số 89840200010956312972 đã qua sử dụng); 01(một) sim c a nhà mạng Vinaphone (trên thẻ sim có dãy số 89840200010633416037 đã qua sử dụng); 01 (một) sim c a nhà mạng Viettel (trên thẻ sim có dãy số 8984048841004364538 đã qua sử dụng). Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 3.435.000 đồng theo biên lai thu số 0001588 ngày 09/5/2025 tại Chi cục Th hành án dân sự huyện HD; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y18S, màu xanh – trắng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO V2026, màu đen; 01 (một) gi để điện thoại bằng nhựa màu đen kết hợp với 01 (một) cục ph t Bluetooth màu đen. Tất cả các tài sản này đã qua sử dụng.

(Các vật chứng trên hiện Chi cục Th hành án dân sự huyện HD đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/5/2025).

Đối với các vật chứng kh c đã thu giữ hiện đã giao trả cho những người li n quan xong n n không đề cập xử lý.

Đối với Đào Văn T, Lý Vĩnh L, Tô Thanh Ph, Trần Út M và Trần Minh Th có tham gia đ nh bạc thắng thua bằng tiền nhưng số tiền dưới 5.000.000 đồng, đồng thời c c đối tượng không có tiền án, tiền sự li n quan đến hành vi đ nh bạc, tổ chức đ nh bạc n n Cơ quan Cảnh s t điều đã chuyển hồ sơ đề Nghị Công an huyện HD xử phạt hành chính đối với mỗi đối tượng 1.500.000 đồng là có căn cứ.

Đối với Nguyễn Thị Bé S u có hành vi dùng địa điểm c a mình quản lý (quán cà phê) cho bị can Phạm Nguyễn Đăng S và c c đối tượng Đào Văn T, Lý Vĩnh L, Tô Thanh Ph, Trần Út M, Trần Minh Th đ nh bạc. Tuy nhiên hành vi c a Nguyễn Thị Bé S u chưa đ yếu tố truy cứu trách nhiệm hình sự n n Cơ quan Cảnh s t điều đã chuyển hồ sơ đề nghị Công an huyện HD xử phạt hành chính số tiền 7.500.000 đồng là có căn cứ.

Đối với người đàn ông lạ mặt không rõ nhân thân có tham gia đ nh bạc thắng thua bằng tiền cùng bị can Phạm Nguyễn Đăng S và c c đối tượng Đào Văn T, Lý Vĩnh L, Tô Thanh Ph, Trần Út M, Trần Minh Th, không x c định được nhân thân lai lịch n n không có căn cứ xử lý.

. Đề nghị c a Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp n n được chấp nhận.

.Án phí hình sự sơ th m: Buộc bị cáo phải nộp số tiền 200.000 đồng tại Chi cục Th hành án dân sự huyện HD.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾ ĐỊNH:

1.Tuyên bố bị cáo Phạm Nguyễn Đăng S phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 điều 51; khoản 3 Điều 54; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phạm Nguyễn Đăng S 04 (Bốn) tháng tù. Thời hạn từ được tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu h y đối với 01 (một) sim c a nhà mạng Vinaphone (trên thẻ sim có dãy số 89840200010956312972 đã qua sử dụng); 01(một) sim c a nhà mạng Vinaphone (trên thẻ sim có dãy số 89840200010633416037 đã qua sử dụng); 01 (một) sim c a nhà mạng Viettel (trên thẻ sim có dãy số 8984048841004364538 đã qua sử dụng). Tịch thu nộp ng n s ch nhà nước số tiền 3.435.000 đồng theo biên lai thu số 0001588 ngày 09/5/2025 tại Chi cục Th hành án dân sự huyện HD; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y18S, màu xanh – trắng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO V2026, màu đen; 01 (một) gi để điện thoại bằng nhựa màu đen kết hợp với 01 (một) cục ph t Bluetooth màu đen. Tất cả các tài sản này đã qua sử dụng.

(Các vật chứng trên hiện Chi cục Th hành án dân sự huyện HD đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/5/2025).

3. Về án phí hình sự sơ th m: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 về án phí. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng tại Chi cục Th hành án dân sự huyện HD

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuy n n. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản n được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ