- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đoàn Ngọc B phạm tội Cố ý gây thương tích.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2025/HS-ST Ngày 25-8-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HẢI PHÒNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Huyền Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Tiến;
Ông Nguyễn Duy Viên.
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Kim Liên, Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 - Hải Phòng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7 - Hải Phòng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đoàn Ngọc B, sinh ngày 26/6/19xx tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 08/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Ngọc U và bà Đặng Thị T (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị B, sinh năm 19xx và 01 con, sinh năm 20xx;
Tiền án: Tại Bản án số 61/2014/HSST ngày 27/5/2014, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 230 (Tái phạm nguy hiểm); điểm đ khoản 2 Điều 250 (Tái phạm nguy hiểm); điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) xử phạt Đoàn Ngọc B 05 năm 06 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” và 02 năm tù tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tổng hợp 02 tội buộc bị cáo phải chịu 07 năm 06 tháng tù. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/10/2021 (chưa được xóa án tích);
Tiền sự: Ngày 27/12/2024, Công an xã Đồng Minh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền Đoàn Ngọc B 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép. B chưa thi hành quyết định xử phạt;
Nhân thân:
+ Tại Quyết định giám đốc thẩm số 85/HS-GĐT ngày 01/09/2000 của Tòa án nhân dân tối cao xử phạt B 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân” (Không bị coi là có án tích do trị giá tài sản dưới 2 triệu đồng);
+ Tại Bản án số 20/STHS ngày 12/9/2000, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng đã xử phạt Đoàn Ngọc B 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (tài sản trộm cắp trị giá 880.000 đồng). (Không bị coi là có án tích do trị giá tài sản dưới 2 triệu đồng);
+ Tại Bản án số 29/2005/HSST ngày 26/7/2005, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xử phạt Đoàn Ngọc B 42 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” (tài sản trộm cắp trị giá 14 triệu đồng). Đoàn Ngọc B đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/11/2008 (đã được xóa án tích).
+ Tại Bản án số 45/2012/HSST ngày 17/7/2012, Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt B 09 tháng tù. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/4/2014 (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 16/05/2025 đến nay, có mặt;
- Bị hại: Ông Lý Diễn N (tên gọi khác là: S), sinh năm 19xx; nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng, có mặt.
- Người làm chứng:
+ Ông Ngô Văn H, sinh năm 19xx, có mặt;
+ Ông Bùi Văn T, sinh năm 19xx, vắng mặt;
+ Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 19xx, có mặt;
+ Bà Đoàn Thị Đ, sinh năm 19xx, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 20 phút, ngày 03/7/2024, ông Lý Diễn N điều khiển xe máy một mình đi từ trong ngõ ra đường trục xã thuộc địa bàn thôn Cấp Lực, xã Đồng Minh. Khi ra gần đến đường trục xã thì gặp Đoàn Ngọc B đang đứng ngay trước ngõ nhà ông N, ông N rà phanh và điều khiển xe đi ra đường và va chạm với B khiến B, ông N và xe máy ngã xuống đường. Ông N và B đứng dậy cãi chửi nhau, sau đó, B chạy vào trong lán nhà mình đang xây dựng, ông N cầm 02 viên gạch, đá ném với về phía B, 01 viên trúng vào chân bên phải B làm xây xước da, còn 01 viên không trúng. B lấy 01 con dao bằng kim loại, có chiều dài 30,5cm, lưỡi dao dài 18,5cm, chiều rộng 9,5cm, chiều dài cán dao là 12cm, đường kính 3,7cm (loại dao dùng trong xây dựng) quay ra tiến về phía ông N, B và ông N tiếp tục đứng ở lòng đường cãi chửi nhau, B cầm dao bằng tay phải giơ lên chém một nhát về phía ông N, ông N giơ tay trái lên đỡ thì bị dao chém vào khuỷu tay. Được mọi người can ngăn, B và ông N đi về nhà. Ông N đã đến trạm xá xã Đồng Minh khâu vết thương. Đến 7 giờ 30 phút ngày 04/7/2024, thấy tay bị đau và sưng nhiều nên ông N đã đến phòng khám Nguyên Hậu, ở xã Vinh Quang, huyện Vĩnh Bảo để chiếu chụp thì phát hiện bị gãy 1/3 xương trụ tay trái. Ông N đã có đơn đề nghị giám định thương tích và đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi B chém ông N nêu trên.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ 01 con dao bằng kim loại có chiều dài 30,5cm, lưỡi dao dài 18,5cm, chiều rộng lưỡi là 9,5cm; chiều dài cán dao là 12cm, đường kính 3,7cm do Đoàn Ngọc B giao nộp.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 583/2024/KLTTCT-TTPYHP ngày 12/8/2024 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lý Diễn N tại thời điểm giám định là: 09%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư, trong đó: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương rách da mặt sau trong 1/3 trên cẳng tay trái gây nên là: 01%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do gãy xương trụ trái gây nên là: 08%. Kết luận khác: Thương tích trên có đặc điểm do vật sắc hoặc tương đối sắc tác động trực tiếp gây nên. Con dao bằng kim loại được cơ quan Cảnh sát điều tra mô tả trong quyết định trưng cầu giám định có thể gây nên thương tích trên cho nạn nhân. Đối với thương tích của nạn nhân, nếu không được cấp cứu kịp thời thì cũng không ảnh hưởng đến tính mạng của nạn nhân”.
Đối với việc anh Lý Diễn N ném gạch, đá vào chân phải của B làm xây xước da, B không đi điều trị ở đâu và không có ý kiến đề nghị gì.
Tại cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 08/7/2025, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hải Phòng đã truy tố Đoàn Ngọc B về tội Cố ý gây thương tích, theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, Đoàn Ngọc B khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên: B và ông N xảy ra mâu thuẫn do ông N điều khiển xe máy va chạm với B, Đoàn Ngọc B đã sử dụng con dao bằng kim loại có chiều dài 30,5cm, lưỡi dao dài 18,5cm, chiều rộng lưỡi là 9,5cm, chiều dài cán dao là 12cm, đường kính 3,7cm là hung khí nguy hiểm chém một nhát vào cánh tay trái của ông Lý Diễn N gây tổn hại 09% sức khỏe.
Ông Lý Diễn N khai: Khoảng 18 giờ 20 phút, ngày 03/7/2024, ông N điều khiển xe máy một mình đi từ trong ngõ ra gần đến đường trục xã thì gặp B đang đứng trước ngõ và xảy ra va chạm với B dẫn đến hai bên cãi chửi nhau. Sau đó, B cầm cát ném vào mặt ông N và cầm dao chém vào tay trái ông N, hậu quả ông N bị gãy xương tay trái. Thương tích của ông do một mình B dùng dao gây ra, ông N yêu cầu bị cáo bồi thường cho ông tổng số tiền là 15.000.000 đồng bao gồm: Tiền chi phí hợp lý cho việc điều trị thương tích; thu nhập thực tế bị mất của ông N; thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc; tiền bồi thường tổn thất về tinh thần.
Ông Ngô Văn H khai: Khoảng 18 giờ, ngày 03/7/2024, ông H đang đưa tôn cho thợ thì nghe thấy B và ông N xảy ra xô xát, cãi nhau. B nhảy qua cửa sổ lán tôn mới xây, cầm dao xây dựng chạy ra chém về phía ông N, ông N dơ tay lên đỡ và bị thương ở tay trái. Sau đó ông N về nhà, B cầm dao về nhà. Ông H không thấy B cầm cát ném vào mặt ông N, ngoài cầm dao, không thấy B cầm gì khác và cũng không thấy ông N cầm vật dụng gì tấn công B.
Ông Bùi Văn Tiền khai: Khoảng 18 giờ, ngày 03/7/2024, ông Tiền đang làm mái tôn thì nghe thấy B và ông N xảy ra xô xát, cãi nhau. B chạy vào trong lán tôn, ông N nhặt gạch ở mép đường phía giáp bờ ruộng ném về phía lán. Ông không chứng kiến được việc B gây thương tích cho ông N. Sau khi xô xát, ông có nghe thấy ông N kể với người phụ nữ bị B chém vào tay và thấy áo B phía sườn thắt lưng bên trái có vết máu. Ông chỉ chứng kiến ông N nhặt gạch ném về phía lán, không chứng kiến được ai dùng hung khí gì nữa.
Bà Nguyễn Thị B khai: Khoảng 18 giờ 20 phút, ngày 03/7/2024, bà đang bế con ở trong nhà thì ông N đi xe máy về, trên cánh tay trái có chảy máu. Bà hỏi thì ông N bảo khi đi xe máy đến đầu ngõ tiếp giáp trục đường xã, ông N thấy B đứng ở đó, ông đã bấm còi xin đường nhưng B không nhường đường và giả vờ ngã nên hai bên xảy ra xô xát. Sau đó, B cầm dao xây chém vào tay trái ông N và cầm xẻng đuổi theo ông N một đoạn. Sau khi về đến nhà, ông N được một người em tên Soái chở ra Trạm y tế xá xử lý vết thương nhưng không đỡ nên sáng hôm sau ông N đi chiếu chụp thì bị gãy xương tay trái.
Bà Đoàn Thị Đ khai: Khoảng 18 giờ 20 phút, ngày 03/7/2024, bà đi làm về thì thấy B và ông N lời qua tiếng lại với nhau. Bà can ngăn và đẩy ông N về nhà, không chứng kiến quá trình B và ông N xô xát, gây thương tích.
Kiểm sát viên khẳng định: Cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 09/7/2025, truy tố Đoàn Ngọc B về tội Cố ý gây thương tích là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội. Căn cứ tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Đoàn Ngọc B phạm tội Cố ý gây thương tích; áp dụng điểm d khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Đoàn Ngọc B từ 30 đến 36 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 590 của Bộ luật Dân sự, ghi nhận thỏa thuận của bị cáo và bị hại, bị cáo phải bồi thường cho bị hại thiệt hại về sức khỏe tổng số tiền 15.000.000 đồng. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại có chiều dài 30,5cm, lưỡi dao dài 18,5cm, chiều rộng lưỡi là 9,5cm; chiều dài cán dao là 12cm, đường kính 3,7cm, có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng tại Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Chứng cứ, tài liệu do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập; người tham gia tố tụng cung cấp có trong hồ sơ vụ án đều đảm bảo hợp pháp; được thu thập, cung cấp đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Người làm chứng (ông Bùi Văn Tiền) vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra đã có lời khai. Xét thấy, việc vắng mặt của người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử; căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Tiền.
Về tội danh và hình phạt: Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo Đoàn Ngọc B trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với kết luận giám định pháp y, biên bản nhận dạng vật chứng, vật chứng thu được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Do mâu thuẫn từ việc va chạm giao thông nên chiều tối ngày 03/07/2024, tại khu vực đường trực xã thuộc thôn Cấp Lực, xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo (nay là xã Vĩnh Hải), thành phố Hải Phòng, Đoàn Ngọc B và ông Lý Diễn N đã xảy ra cãi chửi nhau. Trong lúc cãi chửi nhau, ông N đã nhặt 02 viên gạch, đá ném trúng 01 viên vào chân bên phải B làm xây xước da; B lấy 01 con dao bằng kim loại, có chiều dài 30,5cm, lưỡi dao dài 18,5cm, chiều rộng 9,5cm, chiều dài cán dao là 12cm, đường kính 3,7cm (loại dao dùng trong xây dựng) chém một nhát vào khuỷu tay ông N làm ông N bị rách da mặt sau trong 1/3 trên cẳng tay trái, gãy 1/3 xương trụ tay trái, tổn thương cơ thể là 09%. Hành vi của Đoàn Ngọc B dùng dao bằng kim loại (là hung khí nguy hiểm) gây thương tích cho ông Lý Diễn N, hậu quả làm ông N bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 09%, đã đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích. Do hành vi phạm tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có của B tại Bản án số 61/2014/HSST ngày 27/5/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã bị coi là tái phạm nguy hiểm, bản án này chưa được xóa án tích, nên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật hình sự, hành vi cố ý gây thương tích cho ông N nêu trên của bị cáo B thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, B bị truy tố, xét xử theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 134 BLHS là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến sức khỏe của người khác, làm mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Xét thấy, bị cáo Đoàn Ngọc B là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội nghiêm trọng do lỗi cố ý, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây mất trật tự, trị an - xã hội nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo có 05 tiền án, 01 tiền sự, trong đó tiền án tại Bản án số 61/2014/HSST ngày 27/5/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng chưa được xóa án tích nhưng đã được sử dụng làm tình tiết định khung hình phạt nên không coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giám nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên được áp dụng tính tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Việc bị cáo dùng dao chém bị hại cũng do một phần lỗi của bị hại (bị hại điều khiển xe máy va chạm với bị cáo và bị hại còn cầm gạch, đá ném vào chân bị cáo làm xây xước da trước); bị cáo được bị hại xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự nên được áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử cho rằng, cần phải áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định và bằng với mức cao nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị mới đảm vảo cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
Trong vụ án này, ông N có hành vi ném gạch, đá vào chân phải của B làm xây xước da. Tuy nhiên, B không đi điều trị ở cơ sở y tế và không có ý kiến đề nghị gì. Ngày 22/6/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng đã ban hành Đề nghị số 7154/ĐN-CSHS-Đ2 ngày 22/6/2022 về việc đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với Lý Diễn N do có hành vi dùng gạch ném Đoàn Ngọc B (hành vi này của N có dấu diệu Gây rối trật tự công cộng nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự). Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng đã đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với Lý Diễn N. Việc Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Phòng đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với Lý Diễn N là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về nội dung này.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho bị hại thiệt hại về sức khỏe tổng số tiền là 15.000.000 đồng; bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại, không có ý kiến gì. Xét thấy bị cáo, bị hại đã thoả thuận được với nhau về mức bồi thường, việc thoả thuận này hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội nên yêu cầu bồi thường của bị hại được chấp nhận. Bị cáo phải bồi thường cho bị hại 15.000.0000 đồng.
Bản thân bị cáo (B) bị ông N ném gạch, đá vào chân phải của B làm xây xước da nhưng bị cáo không phải điều trị ở cơ sở y tế, không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ 01 con dao bằng kim loại có chiều dài 30,5cm, lưỡi dao dài 18,5cm, chiều rộng lưỡi là 9,5cm; chiều dài cán dao là 12cm, đường kính 3,7cm B dùng để chém ông N do B giao nộp. Xét thấy, con dao quắm thu giữ của B, là công cụ phạm tội nên căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 1 Điều 6 và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Đoàn Ngọc B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 750.000 (15.000.000 đồng x 5%) đồng án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đoàn Ngọc B phạm tội Cố ý gây thương tích.
2. Về hình phạt: Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đoàn Ngọc B 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 16/5/2025.
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 357, Điều 584, Điều 585, Điều 590 của Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Đoàn Ngọc B bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho ông Lý Diễn N số tiền 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu thi hành khoản tiền trên thì phải chịu lãi, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian và số tiền còn phải thi hành án.
4. Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại có chiều dài 30,5cm, lưỡi dao dài 18,5cm, chiều rộng lưỡi là 9,5cm; chiều dài cán dao là 12cm, đường kính 3,7cm, có đặc điểm như biên bản bàn giao vật chứng ngày 18/7/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 7 - Hải Phòng.
5. Về án phí: Căn cứ vào khoản 1 Điều 6 và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đoàn Ngọc B phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng, án phí hình sự sơ thẩm và 750.000 (Bảy trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND Khu vực 7 – Hải Phòng; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Công an thành phố Hải Phòng (PV06, PC10) ; - Trại tạm giam số 01 – Công an thành phố Hải Phòng; - Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng; - Bị cáo, bị hại; - Công an xã Vĩnh Hải - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Huyền Trang |