- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Viết K - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sử…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2025/HS-ST Ngày 11-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Sơn và Ông Phạm Thế Chiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Bảo Thụy – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 - Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhất - Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 11 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 5 - Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Viết K, sinh ngày 19 tháng 9 năm 1994 tại xã K, tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Nay là thôn B, xã K, tỉnh Đắk Lắk(trước đây là thôn B, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Viết B, sinh năm 1962 (đã chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1964. Bị cáo có vợ là Lê Thị Mỹ D, sinh năm 2000 và có 01 con sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Năm 2020 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 116/2020/HS-PT ngày 20/5/2020.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Chị Phùng Thị T sinh năm 2005 (đã chết).
Trú tại: Thôn B, xã D, tỉnh Đắk Lắk
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Ông Phùng Quang T1 sinh năm 1972
- Bà Nguyễn Thị D1 sinh năm 1977.
Cùng trú tại: Thôn B, xã D, tỉnh Đắk Lắk Đều vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Lê Văn T2 sinh năm 1966.
Địa chỉ: A N, phường B, tỉnh Đắk Lắk Vắng mặt.
2. Chị Lê Hoài T3 sinh năm 1990.
Địa chỉ: Số A P, phường T, tỉnh Đắk Lắk .Vắng mặt
3. Chị Lê Thị Mỹ D sinh năm 2000.
Địa chỉ: C N, xã K, tỉnh Đắk LắkCó mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Trần Viết Danh T4 sinh năm 1997.
Trú tại: Thôn B, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay là Thôn B, xã K, tỉnh Đắk Lắk
2. Anh Nguyễn Mạnh A sinh năm 1994.
Trú tại: Tổ dân phố E, xã K, tỉnh Đắk Lắk
3. Ông Nguyễn Hồng Q sinh năm 1963.
Trú tại: Số nhà H đường H, xã K, tỉnh Đắk Lắk
4. Bà Lê Thị Kiều O sinh năm 1983.
Trú tại: Thôn H, xã K, tỉnh Đắk Lắk
5. Ông Vũ Đức M1 sinh năm 1970.
Trú tại: F N, tổ dân phố B, phường B, tỉnh Đắk Lắk
6. Chị Dương Thị Bảo N sinh năm 1999.
Trú tại: A N, tổ dân phố C, xã K, tỉnh Đắk Lắk
7. Anh Trần Văn T5 sinh năm 1994.
Trú tại: Tổ dân phố A, xã K, tỉnh Đắk Lắk
8. Anh Nguyễn Sơn H sinh năm 1994.
Trú tại: Tổ dân phố B, xã K, tỉnh Đắk Lắk
9. Chị Bùi Thị Ngọc T6 sinh năm 1993.
Trú tại: Thôn D, xã K, tỉnh Đắk Lắk(địa chỉ cũ: Thôn D, xã B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk
10. Anh Nguyễn Hoàng Đ sinh năm 1994.
Trú tại: Tổ dân phố A, xã K, tỉnh Đắk Lắk
(Những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa hôm nay)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Viết K đã được cấp giấy phép lái xe Hạng B2 theo quy định. Vào khoảng 19 giờ 40 phút ngày 06/6/2025, sau khi ăn tối tại nhà bố mẹ vợ về tại thôn B, xã K, tỉnh Đắk Lắk. Sau đó, Trần Viết K điều khiển xe ô tô biển số 47A - 594.87 đến quán nhậu "Taxi Quán” ở xã K, tỉnh Đắk Lắkđể gặp Nguyễn Hoàng Đ, Nguyễn Mạnh A, Hồ Đình Anh T7, Bùi Thị Ngọc T6 (cùng cư trú tại xã K, tỉnh Đắk Lắk. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày thì K, A, Đ, T7, T6 rủ nhau đi hát tại quán Karaoke “King’s Palace”, tổ dân phố G, xã K tỉnh Đắk Lắk
Đến khoảng 23 giờ 20 phút, sau khi hát Karaoke tại quán “King’s Palace” xong. Kđiều khiển xe ô tô biển số 47A - 594.87 đi về nhà. Đến khoảng 23 giờ 30 phút, K điều khiển xe trên đường X theo hướng từ đường X đi ra đường N. Khi K điều khiển xe ô tô đi đến ngã tư giao nhau giữa đường X với đường V, thuộc tổ dân phố C, xã K, tỉnh Đắk Lắk thì K điều khiển xe chạy lấn sang phần đường bên trái và không chú ý quan sát các phương tiện khác khi đi vào ngã tư nên bộ phận cản trước bên phải của xe ô tô biển số 47A- 594.87 đã va chạm với bộ phận giảm xóc phía trước bên phải của xe mô tô biển số 47AX-009.88 do chị Phùng Thị T sinh năm 2005, trú tại Thôn B, xã D, tỉnh Đắk Lắk điều khiển lưu thông trên đường V đi ra đường LHậu quả làm Phùng Thị T bị tử vong, mô tô mang biển số 47AX-009.88 và xe ô tô biển số 47A - 594.87 hư hỏng. Sau khi tai nạn, Kgọi điện cho em trai là Trần Viết Danh T4 đến đưa Phùng Thị T đi cấp cứu. Đến 15 giờ 40 phút ngày 07/6/2025, K đến Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ trình bày nội dung vụ việc.
Kết quả xét nghiệm tại Bệnh viện Đ1thu mẫu máu và nước tiểu để kiểm tra nồng độ cồn và ma túy đối với Trần Viết Kvào lúc 16 giờ 21 phút ngày 07/6/2025, của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ thể hiện Trần Viết K không có nồng độ cồn và ma túy.
Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường lúc 02 giờ 30 phút, ngày 07/6/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ thể hiện:
Hiện trường nơi xảy ra vụ việc tại đường giao nhau giữa đường X và đường V, thuộc Tổ dân phố C, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay là Tổ dân phố C, xã K, tỉnh Đắk Lắk
Mặt đường có kết cấu nhựa đường, tương đối bằng phẳng, chiều rộng mặt đường Xô Viết Nghệ Tĩnh là 725cm, chiều rộng mặt đường Võ Chí Công là 580cm, ở giữa hai đường có vạch kẻ đường màu vàng đứt đoạn. Đường có hệ thống đèn chiếu sáng vào ban đêm, trên hai tuyến đường không có biển báo hiệu giao thông, khu dân cư sinh sống đông đúc.
Tổ khám nghiệm thống nhất lấy hướng chuẩn là hướng đi từ đường X ra đường N. Mép đường chuẩn là mép bên trái của đường X theo hướng chuẩn, mốc chuẩn là trụ điện ký hiệu “A6”.
Số 1: Vết chà cháy cao su thẳng dài 32cm, rộng 10cm, hướng tây sang đông. Đầu vết cách mép đường 275cm, cuối vết cách mép đường 280cm. Đầu vết cách trụ điện cách trụ điện “A6” là 930cm, trụ điện cách mép đường gần nhất 300cm.
Số 2: Vết chà hình cong, dài 155cm, rộng 10cm, hướng từ Tây sang ĐĐầu vết cách mép đường 340cm, cuối vết cách mép đường 260cm.
Số 3: Vết trượt, chà thẳng, dài 1455cm, rộng 11cm, hướng từ tây sang đông, đầu vết cách mép đường 320cm, cách dấu vết chà số 1 là 45cm, cách đầu vết chà số 2 là 60cm, cuối vết cách mép đường 445cm.
Số 4: Vết cày thẳng dài 22cm, rộng 10cm, sâu 0,05cm, hướng từ tây sang đông, đầu vết cách mép đường là 120cm, cách cuối vết chà số 2 là 332cm, cuối vết cách mép đường 125cm.
Số 5: Vết cày thẳng, nham nhở, dài 846cm, rộng 02cm, sâu 01cm, hướng từ Tây sang đông. Đầu vết cách mép đường 96cm, cách cuối vết cày số 4 là 72cm. Cuối vết cày số 5 tại gác để chân sau xe mô tô biển số 47AX-009.88.
Số 6: Xe mô tô biển số 47AX-009.88 nằm tại vị trí khu đất trống bên trái theo hướng chuẩn, trong trạng thái nằm nghiêng bên phải, đầu xe quay hướng Tây, đuôi xe quay hướng Đông. Trục trước cách mép đường 180cm, cách cuối vết chà, trượt số 3 là 630cm. Trục sau cách mép đường 274cm. Trục trước xe mô tô cách đầu vết số 1 là 1413cm, trục sau cách đầu vết số 1 là 1520cm.
Số 7: Vùng mảnh vỡ của xe mô ô và ô tô trong diện (1400x600)cm, tâm vùng mảnh vỡ cách mép đường 180cm, cách trục trước xe mô tô 47AX-009.88 là 740cm.
Số 8: Áo khoác màu đen và vết máu nhỏ giọt nằm sát mép đường, áo cách vị trí số 7 là 500cm, cách dấu vết số 1 là 2080cm.
Số 9: Mũ bảo hiểm màu hồng trong trạng thái nằm úp, trên vỏ mũ còn dính nhiều mảnh kính li ti, nhỏ, cách vị trí số 7 là 550cm, cách mép đường 190cm.
Số 10: Xe ô tô 47A- 594.87 trong trạng thái dừng, bật đèn tín hiệu cảnh báo, đầu xe quay hướng Tây Nam, đuôi xe quay hướng Đông Bắc. Trục trước bên trái cách mép đường 490cm, cách đầu vết số 1 là 3030cm. Trục sau bên trái cách mép đường 490cm, cách trục trước xe mô tô 47AX-009.88 là 1765cm.
Tại biên bản làm việc đánh giá dấu vết, tài liệu chứng cứ thu thập được để xác định vị trí va chạm giữa hai phương tiện trong vụ tai nạn giao thông ngày 07/6/2025 xác định: Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn giao thông, thì vị trí bộ phận bên trái của cản trước xe ô tô biển số 47A- 594.87 đã va chạm với bộ phận giảm xóc phía trước bên phải của xe mô tô mang biển số 47AX – 009.88 là điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện, điểm này khi chiếu vuông góc xuống mặt đường được một vị trí xác định là tâm của vùng va chạm giữa hai phương tiện cách mép đường chuẩn (theo biên bản khám nghiệm hiện trường) là 338cm, cách vị trí tim đường Xô Viết Nghệ Tĩnh là 24,5cm, cách tim đường Võ Chí công là 22cm; vị trí nằm tại phần đường bên trái theo hướng di chuyển của xe ô tô biển số 47A- 594.87 và xe mô tô biển số 47AX – 009.88.
Tại các biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đlập thể hiện:
Xe ô tô biển số 47A – 594.87 nhãn hiệu PEUGEOT 3000; ghi nhận các dấu vết như sau:
Phần bên trái của nắp capô bị móp méo, bị đẩy vào trong so với ban đầu 03cm, theo hướng từ trái sang phải, trên bề mặt có dính vật chất màu trắng nham nhở, kích thước (28x07)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 93cm.
Cụm đèn chiếu sang, đèn tín hiệu phía trước bên trái bị vỡ, bể, rời khỏi vị trí ban đầu.
Toàn bộ cản trước của xe ô tô bị gãy rời, làm lộ bộ phận dây điện và khung bên trong; phần bên trái cản trước bị vỡ bể, bung chốt, rời khỏi vị trí ban đầu, trên bề mặt có nhiều vết chà xước nhựa nham nhở, kích thước (35x55)cm chiều hướng từ trước ra sau. Phía dưới cản trước bên trái bị nứt gãy rời khỏi vị trí ban đầu và nằm sát mặt đất.
Ốp sườn bên trái phía trước bị móp méo, gãy, trên bề mặt có vết rách dài 10cm, làm phần khung bị cong, đẩy từ trước ra sau, làm ốp nhựa trên bánh xe trước bên trái rời khỏi vị trí ban đầu, làm lộ ốc và khung sườn bên trong.
Kính chắn gió phía trước bên trái bị vỡ, bể, góc phía trên bên trái có vết lõm, sâu 02cm, trên bề mặt dính vật chất màu hồng.
Phần nắp nhựa phía sau gương chiếu hậu bên trái bị bung rời khỏi vị trí ban đầu, làm lộ bộ phận dây điện và khung bên trong.
Mặt ngoài cửa trước bên trái bị móp méo theo chiều hướng từ ngoài vào trong, từ trước ra sau, trên bề mặt có dính vật chất màu trắng nham nhở, kích thước (83x35cm), có một vết rách lõm kim loại, sâu 02 cm, dài 04cm tại vị trí cách đầu ngoài tay cầm nắm cửa 27cm, cách mặt đất 04cm.
Cản trước, phía dưới bên trái trên bề mặt có dính vật chất màu đen, kích thước (10x8)cm, làm gãy, rời, bung chốt khỏi vị trí ban đầu.
Xe mô tô biển số 4747AX – 009.88, ghi nhận các dấu vết như sau:
Đầu ngoài tay cầm lái bên phải có vết chà sáng kim loại, kích thước (02x02)cm, trên bề mặt có dính nhiều bùn đất.
T8trước bên phải bị gãy rời khỏi vị trí ban đầu.
Nắp trước bên trái có vết xước nham nhở, kích thước (11x03)cm, trên bề mặt có dính vật chất màu đen, điểm thấp nhất cách mặt đất 102cm.
Ốp đèn chiếu sáng phía trước có vết xước nhựa nham nhở, kích thước (11x9)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 100cm, có chiều hướng từ trước ra sau.
Gương chiếu hậu bên trái bị gãy, gập, vỡ, bể, bung chốt, mặt nạ trước bị vỡ bể hoàn toàn.
Yếm chắn bùn bên trái và bên phải bị vỡ bể bung chốt, rời khỏi vị trí ban đầu, làm lộ bộ phận khung xe và dây điện.
Đầu dè chắn bùn trước có vết nứt dài 05cm, trên bề mặt có nhiều vết chà xước nham nhở, kích thước (10x13)cm.
Mặt ngoài của giám xóc trước bên phải có vết mất bụi, kích thước (07x03)cm, trên bề mặt có dính chất màu trắng bạc.
Đầu ngoài trục trước bên trái có vết chà sáng kim loại, kích thước (01x02)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 26cm, mặt ngoài góc dưới của giảm xóc trước bên phải có về chà xước kim loại nham nhở, kích thước (22x02)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 21cm.
Ốp ống yếm bị vỡ bể, bung chốt rời khỏi vị trí ban đầu.
Gác để chân bị vỡ, bể, bung chốt rời khỏi vị trí ban đầu.
Ốp sườn bên trái và bên phải bị vỡ bể rời khỏi vị trí ban đầu.
Yên xe, cốp xe bị gãy rời khỏi vị trí ban đầu, làm lộ phần khung xe.
Tay dắt sau bị gãy rời khỏi vị trí ban đầu.
Ốp đuôi xe, ốp đèn chiếu hậu, đèn tín hiệu phía sau bị vỡ bể hoàn toàn, trên bề mặt ốp đuôi xe bên phải có vết chà xước nham nhở, kích thước (17x05)cm, trên bề mặt có dính vật chất màu đen.
Ốp nhựa ống xả bị vỡ, bể, trên bề mặt có vết chà xước nham nhở, kích thước (40x14)cm.
Gác để chân sau bên phải bị gãy bung chốt, trên bề mặt có dính bùn đất.
Trên bề mặt má lốp sau bên phải có vết chà cháy cao su, kích thước (32x05)m, điểm thấp nhất cách van 19cm, cách chữ “H” trên dòng chữ “HENGSHINTIRE” 21cm.
Mặt ngoài ốc nối giữa ốp nhựa ống xả và ống xả trên bề mặt có dính vật chất màu đen (nhựa đường), kích thước (03x03)cm, trên bề mặt đầu ốc có vết chà sáng kim loại, chiều hướng từ trước ra sau.
Tại ốc tay dắt sau nối với sườn xe trên bề mặt có vết chà sáng kim loại, kích thước (3,5x02)cm, có chiều hướng từ trứớc ra sau, trên bề mặt có dính vật chất màu đen (nhựa đường).
Tại biên bản khám nghiệm tử thi do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk lập vào hồi 00 giờ 40 phút, ngày 07 tháng 7 năm 2025, đã xác định: Tử thi Phùng Thị Tcó các vết thương: Vùng thái dương chẩm trái có vết xưng nề, bầm tím, ở giữa có vết sây sát; Vùng trái có vết sây sát, ở giữa có vết rách da nằm dọc, bờ mép nham nhở; Đồng tử 02 mắt giãn 0,6cm, niêm mạc, kết mạc mắt nhợt nhạt; Mũi miệng chảy dịch mà đỏ, niêm mạc môi nhợt nhạt; Vùng cằm có vết sây sát rách da; ngực, lưng bụng: Vùng hạ sườn có vết rách da, xung quanh vết rách da có các vết sây sát và bầm tím; vùng hạ sườn trái và thượng vị có các vết sây sát; Vùng thắt lưng bên trái có các vết sây sát; .... Vùng vai phải có bết bầm tím; Mặt sau ngoài 1/3 giữa cánh tay phải đến 1/3 trên cẳng tay phải có các vết sây sát; Mặt trước trong khủy tay phải có các vết sây sát; Biến dạng 1/3 trên cẳng tay phải;... Biến dạng 1/3 trên đùi phải; biến dạng 1/3 giữa cẳng chân phải...Mổ tử thi thấy bầm tụ máu khoang liên sườn 2,3 bên trái; Gãy xương sường số 2, số 3 bên trái; tràn máu khoang ngực trái.
Tại bản Kết luận giám định tử thi số 1017/KLGĐTT-KTHS, ngày 23/6/2025 của Phòng K1Công an tỉnh Đ thể hiện: Nguyên nhân tử vong của Phùng Thị T là đa chấn thương.
Tại bản Kết luận giám định số 1084/KLGĐTT-KTHS, ngày 27/6/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ thể hiện: Không có nồng độ cồn và ma túy trong máu của Phùng Thị T
Tại bản kết luận giám định số 270/KL-KTHS ngày 15/8/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Đxác định: Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe ô tô mang biển số 47A-594.87 và xe mô tô mang biển số 47AX-009.88.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 174/KL-HĐĐGTX ngày 19/8/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên thuộc UBND tỉnh Đkết luận: Thiệt hại các bộ phận hư hỏng của xe ô tô nhãn hiệu Peugeot 3008, biển số 47A-594.87 tại thời điểm ngày 06/6/2025 là 51.200.000 đồng; Thiệt hại các bộ phận hư hỏng của xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 47AX-009.88 tại thời điểm ngày 06/6/2025 là 4.460.000 đồng.
Quá trình điều tra, đại diện hợp pháp của bị hại chị Phùng Thị T là ông Phùng Quang T1xác nhận bị cáo Trần Viết K đã tự nguyện bồi thường cho gia đình chị T các khoản tiền chi phí mai táng, tiền bù đắp tổn thất tinh thần, thiệt hại về tài sản (xe mô tô) và các khoản tiền chi phí khác tổng cộng: 300.000.000 đồng. Ông Phùng Quang T1 và gia đình đã làm đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt và không yêu cầu Trần Viết K phải bồi thường gì thêm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T2 là chủ sở hữu xe ô tô mang biển số 47A- 594.87. Bị cáo Trần Viết K đã bồi thường cho ông Lê Văn T2số tiền 90.000.000 đồng, ông T2không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Cáo trạng số 13/CT-VKS-HS ngày 30/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Đắk Lắk truy tố bị cáo Trần Viết K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Đắk Lắk giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Viết K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự 2015.
- Xử phạt bị cáo Trần Viết K từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ.
Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo vì bị cáo hiện đang bị bệnh hiểm nghèo và thu nhập không ổn định.
Các biện pháp tư pháp:
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Đối với chiếc xe ô tô biển số 47A – 594.87 và các giấy tờ liên quan đến xe là tài sản hợp pháp của ông Lê Văn T2 cho bị can Trần Viết K mượn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đđã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông T2.
Đối với chiếc mô tô biển số 47AX-009.88 là tài sản hợp pháp của bà Phùng Thị T Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã ra Quyết định xử lý tài sản bằng cách trả lại cho gia đình bà T là phù hợp.
Trả lại cho bị cáo Trần Viết K 01 Giấy phép lái xe Hạng B2, số 660242007403 của Sở Giao thông vận tải tỉnh Đcấp cho Trần Viết K.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 13 Pro Max, số máy MLJ43VC/A, số sê-ri F25CFGY75G, đặc điểm bị vỡ mặt kính và camera phía sau cần trả lại cho Trần Viết K là chủ sở hữu.
Đối với 01 (một) mũ bảo hiểm; 16 mảnh vỡ của phương tiện (thu giữ tại hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
-Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Các Điều 584, 585; 586, 589 và 591 Bộ luật Dân sự 2015:
+ Chấp nhận việc bị cáo Trần Viết K và đại diện hợp pháp của người bị hại ông Phùng Quang T1 đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường số tiền 300.000.000 đồng, đại diện gia đình của Phùng Thị Tkhông yêu cầu bồi thường gì thêm; Trần Viết Kđã bồi thường thiệt hại về xe ô tô mang biển số 47A- 594.87 cho ông Lê Văn T2 (chủ phương tiện) số tiền 90.000.000 đồng, ông T2 không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì, chỉ để nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh ĐắkLắk, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Đắk Lắk, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
. Lời khai của các bị cáo Trần Viết K tại phiên toà sơ thẩm là cơ bản phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận:
Do không tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, nên khoảng 23 giờ 30 phút ngày 06/6/2025, Trần Viết K đã có giấy phép lái xe hạng B2 điều khiển xe ô tô biển số 47A - 594.87 lưu thông trên đường X theo hướng từ đường X đi ra đường N. Khi đi đến ngã tư giao nhau giữa đường X với đường V, thuộc tổ dân phố C, xã K, tỉnh Đắk Lắk thì K điều khiển xe chạy lấn sang phần đường bên trái và không chú ý quan sát các phương tiện khác khi đi vào ngã tư nên xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 47AX-009.88 do chị Phùng Thị T điều khiển lưu thông trên đường V đi ra đường L. Hậu quả làm Phùng Thị T bị tử vong, xe mô tô mang biển số 47AX-009.88 của chị Phùng Thị T bị hư hỏng và thiệt hại 4.446.000đ. Hành vi của Trần Viết K đã vi phạm vào khoản 1 Điều 10; điểm d khoản 3 Điều 12 Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ năm 2024, làm chết người. Do đó, hành vi của bị cáo Trần Viết K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Do đó, Viện kiểm sát khu vực 5 – ĐắkLăk đã truy tố bị cáo Trần Viết K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Điều 260 BLHS quy định:
“1.Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a, Làm chết 01 người;”
...................................
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
. Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào.
. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình người bị hại và được gia đình người bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bản thân bị cáo hiện đang bị bệnh hiểm nghèo ( ung thư tuyến giáp), quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo tham gia tích cực ủng hộ do địa phương phát động (công tác xã hội ủng hộ đồng bào miền B tháng 9/2025 và có thư cảm ơn của trường P). Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 nên cần áp dụng cho bị cáo trong khi quyết định hình phạt cho bị cáo.
Xét thấy bị cáo là người có nơi cư trú rõ ràng, bản thân bị cáo không có tình tiết tăng nặng, phạm tội với lỗi vô ý và có nhiều tình tiết giảm nhẹ đã thực hiện xong phần trách nhiệm dân sự, phía đại diện hợp pháp của gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hơn nữa hiện nay bị cáo đang bị bệnh hiểm nghèo cần phải điều trị và theo dõi thường xuyên; vì vậy việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội là không cần thiết, mà cần cho bị cáo được cải tạo không giam giữ, để bị cáo tự cải tạo ngoài xã hội, dưới sự giám sát của gia đình và địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo thành công dân tốt, đồng thời thể hiện được chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
Về khấu trừ thu nhập của các bị cáo: Bản thân bị cáo hiện đang bị bệnh hiểm nghèo và thu nhập không ổn định nên cần miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo là phù hợp.
Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ các điều 46, 47, 48 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Các điều 584, 585; 586, 589 và 591 Bộ luật dân sự 2015.
. Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận việc bị cáo đã thỏa thuận bồi thường các khoản chi phí tổng cộng là 300.000.000 đồng cho ông Phùng Quang T1 là người đại diện hợp pháp của bị hại chị Phùng Thị T, gia đình bị hại đã làm đơn bãi nại cho bị cáo và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại về xe ô tô mang biển số 47A- 594.87 cho ông Lê Văn T2 (chủ phương tiện) số tiền 90.000.000 đồng, ông T2 không yêu cầu bồi thường gì thêm.
. Về xử lý vật chứng:
- Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng:
Trả lại chiếc xe ô tô biển số 47A – 594.87 và các giấy tờ liên quan đến xe là tài sản hợp pháp của ông Lê Văn T2, chủ sở hữu đã nhận lại xe.
Trả lại chiếc mô tô biển số 47AX-009.88 là tài sản hợp pháp của bà Phùng Thị T là phù hợp, chủ sở hữu đã nhận lại xe.
- Trả lại cho bị cáo Trần Viết K: 01 Giấy phép lái xe Hạng B2, số 660242007403 của Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp cho Trần Viết K; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 13 Pro Max, số máy MLJ43VC/A, số sê-ri F25CFGY75G.
Đối với 01 (một) mũ bảo hiểm; 16 mảnh vỡ của phương tiện (thu giữ tại hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo Trần Viết K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1]. Về tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Viết K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
[2]. Điều luật áp dụng và hình phạt:
[2.1]. Điều luật áp dụng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự 2015.
[2.2].Hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Viết K 02 ( hai) năm cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự công an tỉnh Đ nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo cho UBND xã K, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Trần Viết K.
[3] Các biện pháp tư pháp:
[3.1].Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Các Điều 584, 585; 586, 589 và 591 Bộ luật dân sự 2015:
+ Ghi nhận nhận việc bị cáo Trần Viết K đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường với người đại diện hợp pháp của người bị hại ông Phùng Quang T1, tổng số tiền: 300.000.000 đồng và ông T1không yêu cầu bồi thường gì thêm;
+ Ghi nhận nhận việc bị cáo Trần Viết K đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường với ông Lê Văn T2 là chủ xe ô tô biển số 47A – 594.87 số tiền 90.000.000đ và ông T2 không yêu cầu bồi thường gì thêm;
[3.2]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ các điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đđã trả lại chiếc xe ô tô biển số 47A – 594.87 cho ông Lê Văn T2 là chủ sở hữu; đã trả lại chiếc xe mô tô biển số 47AX-009.88 cho ông Phùng Quang T1 là người đại diện hợp pháp của chị Phùng Thị T.
- Trả lại cho bị cáo Trần Viết K 01 Giấy phép lái xe Hạng B2, số 660242007403 của Sở Giao thông vận tải tỉnh Đcấp cho Trần Viết K (Hiện đang có trong hồ sơ vụ án).
- Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 13 Pro Max, số máy MLJ43VC/A, số sê-ri F25CFGY75G, đặc điểm bị vỡ mặt kính và camera phía sau cho Trần Viết Klà chủ sở hữu.
- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) mũ bảo hiểm; 16 mảnh vỡ của phương tiện (thu giữ tại hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông), không còn giá trị sử dụng.
(Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/10/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ và Phòng thi hành án dân sự K – Đắk Lắk).
[4]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Viết K phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
[5].Quyền kháng cáo:
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKS huyện, VKS khu vực; - Phòng HSNV Công an tỉnh; - Cơ quan THAHS tỉnh; - Cục THADS tỉnh; - UBND xã K; - Bị cáo; đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Anh Tuấn |