vanban.org

Bản án 12/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng A G - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Tịch thu tiêu hủy; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 12/2025/HS-ST
Ngày: 29-9-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VƯC 4 - ĐIỆN BIÊN , TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thân Văn Hàm .

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Khắc Thiện.

2. Ông Lò Văn Hưng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thiều Tất Lơ - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 4 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân khu vực 4 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2025/TLST-HS, ngày 29 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vàng A G; tên gọi khác: Không có tên gọi khác; sinh năm 1997; Nơi cư trú: bản K, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên (Nay là bản K, xã M, tỉnh Điện Biên) Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vàng Chồng T - sinh năm: 1956 và bà Sùng Thị C - sinh năm: 1968;

Bị cáo được kết nạp vào Đ ngày 05/5/2024 (Đảng viên dự bị). Ngày 21/8/2025 tại Quyết định số 41-QĐ/ĐU của Đảng ủy xã M, tỉnh Điện Biên xóa tên Vàng A G trong danh sách Đảng viên dự bị. Bị cáo có vợ Sùng Thị L - sinh năm: 2003 Bị cáo có 03 người con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2025; Gia đình bị cáo có 07 anh, em ruột bị cáo là con thứ 5 trong gia đình; Tiền án: Không, tiền sự: Không; Nhân thân: Bị cáo chưa bị kết án, Bị cáo đã bị xử phạt hành chính năm 2022. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/6/2025, tạm giam từ ngày 06/6/2025 cho đến ngày mở phiên tòa xét xử sơ thẩm. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ, ngày 03/6/2025, bị cáo Vàng A G đi bộ từ nhà ở bản K, xã M, tỉnh Điện Biên khi đi mang theo 200.000đ đi đến suối N thuộc bản H, xã N, tỉnh Điện Biên thì gặp người đàn ông đang sử dụng ma túy, qua trao đổi người này tự giới thiệu tên là N, Bị cáo hỏi mua từ N được 02 gói Heroine trong đó 01 gói được gói bằng bằng mảnh nilon màu trắng, 01 gói được gói bằng mảnh nilon màu hồng với giá 200.000đ. N đưa thêm cho bị cáo 01 viên hồng phiến không lấy tiền, sau đó N đưa cho bị cáo 01 túi nilon màu trắng để đựng ma túy. Bị cáo cho tất cả số ma túy mới mua được vào túi nilon rồi cầm trong tay trái đi bộ về nhà. Đến 18 giờ cùng ngày, bị cáo đi bộ đến khu vực bản H, xã N tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác Đ1 phối hợp với Công an xã M làm nhiệm vụ yêu cầu dừng lại kiểm tra, phát hiện thu giữ trong lòng bàn tay phải của bị cáo đang cất giấu ma túy. Tổ công tác đưa bị cáo cùng toàn bộ vật chứng về Đồn Biên phòng Đ1 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng của vụ án.Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu gửi giám định ngày 04/6/2025 xác định vật chứng thu giữ của bị cáo Vàng A G gồm: 01 viên nén màu hồng có ký hiệu WY nghi ma túy có khối lượng 0,09gam và 01 gói nilon màu trắng ký hiệu M2 là 0,26 gam chất bột màu trắng nghi Heroine; 01 gói nilon màu hồng ký hiệu M3 là 0,14 gam chất bột màu trắng nghi Heroine. (gửi toàn bộ để giám định).

Tại bản kết luận giám định số: 509/KLHS, ngày 06/6/2025 của phòng K Công an tỉnh Đ kết luận vật chứng thu giữ của Vàng A G gửi giám định: Mẫu viên nén màu hồng có khối lượng 0,09 gam, ký hiệu M1 là chất ma túy loại Methamphetamine; 02 mẫu cục trắng có ký hiệu M2, M3 có khối lượng M2: 0,26 gam; M3:0,14 gam là chất ma túy loại Heroime (Hoàn lại mẫu vật sau giám định).Tại bản Cáo trạng số: 06/CT-VKSKV 4, ngày 28/8/2025 của Viện kiểm sát khu vực 4 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Vàng A G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Điện Biên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bị cáo Vàng A G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Vàng A G từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: M1: 0,05 gam Methamphetamine; M2: 0,2 gam Heroine; M3: 0,09 gam Heroine; (Vật chứng còn lại sau giám định). 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh nilon màu hồng, 01 túi nilon màu trắng. Những mảnh nilon đựng ma túy không còn giá trị sử dụng.

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo vì bị cáo sống ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát về bản luận tội.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm án, ngoài ra bị cáo không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi của bị cáo: Hành vi của bị cáo Vàng A G là vào khoảng 17 giờ, ngày 03/6/2025, tại khu vực bản H, xã N, tỉnh Điện Biên tổ công tác Đồn Biên phòng Đ1 phối hợp với Công an xã M kiểm tra phát hiện Vàng A G có hành vi cầm trong lòng bàn tay 01 túi nilon màu trắng bên trong có 0,09 gam Methamphetamine và 0,4 gam Heroine. Tổng khối lượng hai chất ma túy là 0,49 gam, mục đích tàng trữ ma túy của bị cáo là để sử dụng cho bản thân.

Hành vi của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các biên bản ghi lời khai, bản cung của bị cáo, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như Cáo trạng đã truy tố. Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó với hành vi mua 02 chất ma tuý là H1 và Methamphetamine và khối lượng thu giữ của bị cáo. HĐXX đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm vào tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 với mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã được sửa đổi bởi khoản 18 Điều 1 Luật số: 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025 với mức hình phạt tù từ 03 năm đến 05 năm, cao hơn so với mức hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó việc áp dụng quy định của luật mới không có lợi cho người phạm tội. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi bổ sung một số điều Bộ luật hình sự, HĐXX thấy rằng cần phải áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xét xử và quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng và có căn cứ, đúng người, đúng tội.

. Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo còn tiếp tay cho việc buôn bán các chất ma túy và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức và biết ma túy là chất gây hại nguy hiểm nên Nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng, mua bán nhưng bị cáo vẫn cố tình vi phạm pháp luật. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.

. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Nhân thân: Bị cáo đã bị xử phạt hành chính cụ thể: Ngày 09/3/2022 bị Công an huyện M (cũ), tỉnh Điện Biên xử phạt 2.000.000đ về hành vi sử dụng các loại vũ khí, công cụ hỗ trợ không có giấy phép, bị cáo chấp hành xong đã được xóa tiền sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Bị cáo là người nghiện ma túy, trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Từ những phân tích ở trên về hành vi của bị cáo, khối lượng H1 và Methamphetamine thu được của bị cáo, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt là có căn cứ. Do vậy HĐXX cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo để đảm bảo tính nghiêm minh, răn đe và giáo dục bị cáo, đồng thời để bị cáo có điều kiện cai nghiện ma túy.

. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Nhưng bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không có khả năng thi hành, do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

. Về vật chứng của vụ án:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

Tịch thu tiêu hủy: 0,05 gam Methamphetamine và 0,29 gam Heroine (Vật chứng còn lại sau giám định), đây là những vật Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ, sử dụng. Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu trắng. 01 mảnh ni lon màu hồng, 01 túi nilon màu trắng không còn giá trị sử dụng. Ngoài ra các phong bì niêm phong vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng cần tiêu huỷ cùng vật chứng.[7]. Các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông tên N đã bán ma tuý cho bị cáo. Do bị cáo không biết nhân thân lai lịch, không biết địa chỉ nên không có cơ sở để điều tra làm rõ nên không đề cập xử lý trong vụ án này.

. Về hành vi và các Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

- Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Vàng A G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Vàng A G 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2025.

3. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

Tịch thu tiêu hủy: 0,05 gam Methamphetamine và 0,29 gam Heroine; (Vật chứng còn lại sau giám định). Tịch thu tiêu hủy 01 túi nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu hồng, ngoài ra các phong bì niêm phong vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng cần tiêu huỷ cùng vật chứng.(Toàn bộ vật chứng của vụ án đã được cơ quan Điều tra Công an tỉnh Đ chuyển giao cho Phòng thi hành án dân sự khu vực 4 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/8/2025).

4. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/9/2025).

Cỡ chữ